Hiển thị các bài đăng có nhãn 21. Ma-ca-bê 2. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 21. Ma-ca-bê 2. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 15 - MA-CA-BÊ 2

Những lời lộng ngôn và phạm thượng của Ni-ca-no
1 Ni-ca-no biết được ông Giu-đa và các người theo ông đang có mặt trong các miền thuộc xứ Sa-ma-ri, nên quyết định tấn công họ vào ngày nghỉ, để được bảo đảm an toàn. 2 Những người Do-thái bị ép buộc theo ông ta nói: "Xin ông đừng tiêu diệt họ cách tàn bạo và dã man như thế, nhưng hãy tôn vinh ngày mà chính Ðấng thấu suốt mọi sự đã thánh hoá và quý trọng hơn những ngày khác." 3 Lúc ấy tên đại gian ác hỏi xem ở trên trời có vị Chúa Tể truyền phải mừng ngày sa-bát không. 4 Những người Do-thái quả quyết: "Chính Ðức Chúa hằng sống, Chúa Tể ngự trên trời, đã truyền phải giữ ngày thứ bảy." 5 Ông ta nói: "Chính ta, ta là chúa tể trần gian, ta truyền cho các ngươi phải cầm khí giới và lo phục vụ nhà vua." Nhưng ông ta đã không thực hiện được ý định đen tối của mình.
Ông Giu-đa khích lệ binh lính và được ca tụng
6 Trong khi Ni-ca-no huênh hoang tự cao tự đại, quyết định lấy những chiến lợi phẩm tịch thu được của ông Giu-đa và những người theo ông mà dựng lên một đài chiến thắng công cộng, 7 thì ông Ma-ca-bê vẫn một lòng tin tưởng và cậy trông vào ơn phù trợ của Ðức Chúa. 8 Ông khuyên các người theo ông đừng sợ dân ngoại tấn công, nhưng hãy nhớ lại những ơn phù trợ xưa kia Chúa Trời đã ban cho họ, và bây giờ phải cậy trông vào Ðấng Toàn Năng sẽ làm cho họ chiến thắng. 9 Ông dùng Sách Luật và các ngôn sứ mà khích lệ họ, lại còn nhắc cho họ nhớ đến các trận đánh họ đã thắng; ông làm cho họ bừng bừng nhiệt khí. 10 Sau khi làm cho họ phấn khởi, ông còn khích lệ họ nhiều hơn nữa bằng cách tỏ cho họ thấy dân ngoại đã bất trung và bội ước.
11 Ông võ trang cho mỗi người theo ông được an toàn, không phải bằng khiên thuẫn, giáo mác cho bằng những lời khuyến khích cao thượng. Ngoài ra, ông còn thuật lại cho họ nghe một giấc mơ đáng tin, giống như một thị kiến, làm cho họ phấn khởi vui mừng. 12 Ðây là cảnh tượng ông thấy: ông Ô-ni-a, nguyên là thượng tế, một người lương thiện tốt lành đã xử sự nhã nhặn, đối đãi hiền từ, nói năng lịch sự và đã thực hành các nhân đức ngay từ buổi thiếu thời. Lúc ấy, ông dang tay cầu nguyện cho toàn thể cộng đồng Do-thái. 13 Rồi một người khác xuất hiện, cũng làm như ông Ô-ni-a. Người này nổi bật nhờ mái tóc bạc và phẩm giá của mình, lại toả ra chung quanh một vẻ oai phong lẫm liệt khác thường. 14 Ông Ô-ni-a lên tiếng nói: "Ðây là Giê-rê-mi-a, ngôn sứ của Thiên Chúa. Ông hằng yêu mến anh em đồng bào mình, cầu nguyện nhiều cho toàn dân và tất cả Thành Thánh." 15 Rồi ông Giê-rê-mi-a đưa tay phải ra trao cho ông Giu-đa thanh gươm bằng vàng. Khi trao gươm, ông nói thế này: 16 "Hãy nhận lấy thanh gươm thánh này. Ðó là món quà Thiên Chúa ban. Nhờ nó, ngươi sẽ đánh tan quân địch."
Dàn trận
17 Ðược lời khích lệ của ông Giu-đa, những lời lẽ thật quý hoá, có sức khơi dậy lòng can đảm và mang lại khí phách nam nhi cho thanh niên, người Do-thái quyết định không còn giữ thế thủ trong trại nữa, nhưng can đảm tấn công và đem chí khí nam nhi bám sát quân địch để giải quyết chiến cuộc, bởi vì Thành Thánh, tôn giáo và Ðền Thờ đang gặp cơn nguy khốn. 18 Quả thật, đối với họ, lo lắng cho vợ con, anh em và thân thích chỉ là phụ thuộc; còn nỗi lo sợ lớn hơn cả và chính yếu hơn cả là Ðền Thờ đã được thánh hiến. 19 Những người còn ở lại trong thành cũng lo sợ không kém; họ lo lắng vì cuộc giao tranh ngoài chiến địa. 20 Mọi người chờ đợi giờ quyết định sắp đến, trong lúc địch quân tập trung lực lượng, bày binh bố trận, đưa đàn voi trận tới vị trí xung yếu, và dàn kỵ binh ra hai cánh. 21 Khi ông Ma-ca-bê nhìn thấy đông đảo quân địch xuất hiện, trang bị đủ loại vũ khí, đàn voi trận hung hãn, ông dang tay lên trời, khẩn cầu Ðức Chúa là Ðấng làm nên những công trình kỳ diệu, vì ông biết rằng chiến thắng không phải là nhờ vũ khí, nhưng là do Người quyết định ban cho những ai xứng đáng. 22 Trong khi khẩn cầu, ông nói như thế này: "Lạy Chúa Tể, dưới triều Khít-ki-gia vua nước Giu-đê, Ngài đã sai sứ thần của Ngài đến tiêu diệt một trăm tám mươi lăm ngàn quân của Xan-khê-ríp. 23 Vậy giờ đây, lạy Chúa Tể ngự trên trời, xin kịp thời phái sứ thần đến đi trước chúng tôi, gieo sợ hãi và kinh hoàng cho địch quân. 24 Xin Ngài vung cánh tay mạnh mẽ trừng phạt những kẻ nói lộng ngôn phạm thượng dám tấn công dân thánh của ngài." Rồi ông kết thúc bằng những lời ấy.
Ni-ca-no bại trận và chết
25 Quân của Ni-ca-no tiến lên theo tiếng kèn và bài ca lâm trận. 26 Còn ông Giu-đa và những người theo ông thì giao chiến với quân địch giữa những lời kêu van cầu khẩn. 27 Tay chiến đấu mà lòng cầu khẩn Thiên Chúa, họ giết ít nhất cũng được ba mươi lăm ngàn tên địch. Họ rất đỗi vui mừng vì Thiên Chúa đã biểu lộ quyền năng của Người. 28 Diệt quân thù xong, họ vui sướng trở về vì biết rằng Ni-ca-no đã ngã gục, mình còn mang đầy binh giáp.
29 Bấy giờ, họ cất tiếng hò la inh ỏi, dùng tiếng mẹ đẻ mà chúc tụng Chúa Tể. 30 Rồi ông Giu-đa, người luôn luôn chiến đấu ở hàng đầu, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đồng bào và vẫn giữ mối thân tình đối với dân tộc ngay từ thời niên thiếu, đã ra lệnh chặt đầu, chặt tay và bả vai của Ni-ca-no đem về Giê-ru-sa-lem. 31 Ðến nơi, ông triệu tập người đồng chủng, đặt các tư tế đứng trước bàn thờ dâng lễ toàn thiêu và cho gọi quân canh ở Ðô Thị đến. 32 Ông giương cao thủ cấp của Ni-ca-no gian ác cho họ thấy, và cả cánh tay của tên lộng ngôn phạm thượng ấy, kẻ đã dám ngạo mạn giơ tay chống lại Ðền Thánh của Ðấng Toàn Năng. 33 Cắt lưỡi của tên Ni-ca-no khốn kiếp đó rồi, ông hạ lệnh thái ra từng mảnh ném cho chim trời ăn, và truyền bêu trước Ðền Thờ cánh tay là giá ông ta phải trả cho sự điên rồ của mình. 34 Lúc ấy mọi người hướng lên trời chúc tụng Ðức Chúa hiển linh; họ nói: "Chúc tụng Ðấng đã gìn giữ Nơi Thánh của Người khỏi bị ô uế."
35 Ông Giu-đa cũng bêu thủ cấp của Ni-ca-no ở Ðô Thị, để cho mọi người thấy dấu chỉ tỏ tường và hiển nhiên về ơn phù trợ của Ðức Chúa. 36 Mọi người bỏ thăm, cùng nhau đi đến quyết định là đừng để ngày ấy trôi qua mà không ghi nhớ gì cả, nhưng phải mừng vào ngày mười ba tháng mười hai, tức là tháng A-đa theo tiếng Xy-ri, ngày áp của ngày Moóc-đo-khai.
Lời kết
37 Các sự kiện liên quan đến Ni-ca-no đã xảy ra như vậy. Kể từ thời kỳ ấy, người Híp-ri hoàn toàn làm chủ thành Giê-ru-sa-lem. Tôi cũng xin kết thúc tác phẩm ở đây. 38 Nếu công việc soạn thảo được xuôi xắn và thành công, thì đó là điều tôi mong ước. Còn nếu tác phẩm kém giá trị và tầm thường, thì đó cũng là tất cả điều tôi có thể làm. 39 Cũng như chỉ uống nguyên rượu hoặc nguyên nước thì không tốt, nhưng uống rượu có pha nước thì mới ngon lành và thú vị; cũng vậy nếu trình thuật được xếp đặt gọn gàng và hấp dẫn thì làm sướng tai người đọc truyện. Vậy tôi xin chấm dứt ở đây.
CHIA SẺ

Khi Kẻ Thù Chế Nhạo Niềm Tin: Trong chương này, Ni-ca-no tiếp tục mưu đồ tiêu diệt dân Chúa. Ông nhạo báng đức tin của họ, đe dọa sẽ phá hủy Đền Thờ, và tấn công ngày Sa-bát. Nhưng Giu-đa Ma-ca-bê không hoảng sợ, mà đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi có bao giờ bị chế giễu vì đức tin của mình không? Tôi có dám đứng vững và bảo vệ đức tin, ngay cả khi bị chống đối không? Tôi có tin rằng Thiên Chúa sẽ chiến đấu thay tôi trong những lúc khó khăn không?

Lời Cầu Nguyện Của Giu-đa Ma-ca-bê: Trước trận chiến, Giu-đa Ma-ca-bê tập hợp quân lính và cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Ông nhắc lại những lần Thiên Chúa đã bảo vệ dân Ngài trong quá khứ, và xin Ngài tiếp tục ra tay. Sau khi cầu nguyện, ông trở nên mạnh mẽ và đầy niềm tin. Tôi có đặt Chúa là trung tâm của đời sống mình, hay chỉ tìm đến Ngài khi gặp khó khăn? Tôi có tin rằng sức mạnh thật sự đến từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chính mình không? Tôi có cầu nguyện trước mỗi quyết định quan trọng, hay chỉ dựa vào tính toán cá nhân?

Thiên Chúa Ban Chiến Thắng Cho Người Công Chính: Sau khi cầu nguyện, Giu-đa Ma-ca-bê và quân đội của ông đã chiến thắng dù bị áp đảo về số lượng. Chúa đã ra tay bảo vệ dân Ngài và khiến quân thù phải kinh hoàng. Tôi có tin rằng Chúa sẽ luôn bảo vệ những ai trung thành với Ngài không? Tôi có kiên trì cầu nguyện và làm việc lành, dù chưa thấy kết quả ngay lập tức không? Tôi có biết tạ ơn Chúa sau mỗi chiến thắng trong đời sống không?


Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 14 - MA-CA-BÊ 2

 VII. Cuộc Chiến Ðấu Chống Lại Ni-Ca-No,
Tướng Của Vua  Ðê-Mết-Ri-Ô I. Ngày Ni-Ca-No.

Thượng tế An-ki-mô can thiệp (1 Mcb 7:1-21)
1 Khoảng ba năm sau, ông Giu-đa và những người theo ông nghe đồn rằng vua Ðê-mết-ri-ô, con của vua Xê-lêu-cô, cùng với đoàn quân đông đảo và đội chiến thuyền đã đổ bộ lên hải cảng Tri-pô-li. 2 Vua đã chiếm cứ cả vùng, sau khi thủ tiêu vua An-ti-ô-khô và Ly-xi-a, giám hộ của vua này. 3 Có một người tên là An-ki-mô, trước kia là thượng tế, nhưng đã cố tình vi phạm Lề Luật trong thời loạn ly. Ông ta tưởng rằng không còn cách nào để tự cứu thoát, cũng không thể lên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu được nữa, 4 nên đã đến gặp vua Ðê-mết-ri-ô vào năm một trăm năm mươi mốt và dâng tặng vua một triều thiên bằng vàng với nhành thiên tuế; ngoài ra, ông ta còn dâng cho vua những nhánh ô-liu thường dùng ở Ðền Thờ; ngày ấy ông ta sống yên lặng.
5 Tuy nhiên, thời cơ xảy đến làm tăng thêm sự điên rồ của ông ta là khi được vua Ðê-mết-ri-ô triệu đến Hội đồng cố vấn và được hỏi xem người Do-thái có thái độ hay dự tính nào, ông ta liền trả lời: 6 "Những người Do-thái mà người ta gọi là Khi-xi-đin, dưới quyền chỉ huy của Giu-đa Ma-ca-bê, là những kẻ hiếu chiến và phản loạn. Chúng không để cho vương quốc được thái bình. 7 Do đó, tôi đã bị tước mất vinh dự của tổ tiên, ý tôi muốn nói là chức thượng tế. Bây giờ, tôi đến đây, 8 trước hết vì thành tâm lo đến quyền lợi của đức vua, sau là vì công ích của đồng bào tôi; bởi sự điên cuồng của những kẻ vừa nói trên mà toàn thể giống nòi chúng tôi gặp phải lao đao khốn khổ. 9 Tâu đức vua, khi nào ngài biết rõ từng chi tiết các vấn đề ấy, xin ngài dùng các biện pháp cần thiết để cứu xứ sở và đồng bào chúng tôi đang bị đe doạ tư bề, vì ngài vẫn hằng nhân đạo đối với mọi người. 10 Bao lâu Giu-đa còn sống, đất nước vẫn chưa được thái bình."
11 An-ki-mô vừa nói như thế xong, các bạn hữu khác của vua Ðê-mết-ri-ô, vốn hiềm khích với ông Giu-đa, cũng vội vàng khơi thêm lửa giận của vua. 12 Lập tức vua chỉ định Ni-ca-no làm tướng chỉ huy đội voi trận, đặt ông ta làm tổng trấn xứ Giu-đê và sai đi tới đó. 13 Vua ra lệnh cho ông ta phải giết ông Giu-đa, đánh tan những người theo phe ông này, phục chức cho An-ki-mô làm thượng tế của Ðền Thờ rất vĩ đại. 14 Các dân ngoại trước đây đã rời khỏi Giu-đê để trốn tránh ông Giu-đa, nay lũ lượt kéo về liên kết với Ni-ca-no, tưởng rằng nỗi bất hạnh và tai hoạ của người Do-thái sẽ thành điều may mắn cho mình.
Tướng Ni-ca-no kết thân với ông Giu-đa
15 Nghe biết Ni-ca-no và dân ngoại đang đến tấn công mình, người Do-thái bỏ bụi đất lên đầu và cầu xin cùng Ðấng đã thiết lập dân Người cho đến muôn đời và đã luôn hiển linh để trợ giúp phần cơ nghiệp của Người là Ít-ra-en. 16 Rồi theo lệnh của vị chỉ huy, lập tức họ rời khỏi đó và giáp chiến với quân địch tại làng Ðét-xau. 17 Bấy giờ ông Si-môn, anh ông Giu-đa đang giao chiến với Ni-ca-no, thì bị đối phương tấn công bất ngờ, nên ông phải tổn thất nhẹ. 18 Tuy nhiên, bởi đã từng được nghe nói về chí nam nhi và lòng dũng cảm chiến đấu vì tổ quốc của ông Giu-đa và những người theo ông, nên Ni-ca-no sợ phải đi tới quyết định gây đổ máu. 19 Vì thế ông ta cử các ông Pô-xi-đô-ni-ô, Thê-ô-đô-tô và Mát-tít-gia đến giảng hoà với người Do-thái.
20 Vậy sau khi cứu xét kỹ càng các đề nghị ấy, vị chỉ huy thông báo cho toàn quân biết, và khi mọi người xem ra như đồng ý, thì thoả thuận ký hoà ước. 21 Ðôi bên ấn định ngày các đại diện sẽ gặp nhau riêng. Mỗi bên chỉ có một xe tiến đến chỗ họp, nơi có đặt hàng ghế danh dự. 22 Ông Giu-đa bố trí quân cầm khí giới, trong tư thế sẵn sàng tại vị trí xung yếu, đề phòng địch quân tráo trở bất ngờ; nhưng cuộc thương nghị diễn ra tốt đẹp. 23 Ni-ca-no lưu lại Giê-ru-sa-lem, không làm điều chi thất sách, lại còn giải tán đám đông đã lũ lượt kéo về liên kết với ông ta. 24 Ông ta luôn giữ ông Giu-đa ở bên mình, và trong thâm tâm rất ngưỡng mộ con người ấy. 25 Ông ta khuyên ông Giu-đa lập gia đình và sinh con cái. Thế là ông Giu-đa cưới vợ, chung hưởng cuộc sống an nhàn và hạnh phúc.
An-ki-mô gieo rắc tai hoạ. Ni-ca-no đe doạ Ðền Thờ.
26 An-ki-mô thấy hai ông đối xử tử tế với nhau, nên lấy một bản sao hoà ước, đến yết kiến vua Ðê-mết-ri-ô và trình với vua rằng Ni-ca-no có ý định chống lại quyền lợi vương quốc, vì ông ta muốn cất nhắc ông Giu-đa, kẻ thù của vương quốc, lên kế nghiệp mình. 27 Vua nổi giận và vì lời xúi xiểm quỷ quái của tên đại gian ác ấy, nên viết thư cho Ni-ca-no, ngỏ ý không tán thành bản hoà ước đó, và ra lệnh cho ông ta phải lập tức bắt trói ông Ma-ca-bê điệu về An-ti-ô-khi-a.
28 Ðược thư ấy, Ni-ca-no hốt hoảng. Ông ta hết sức băn khoăn vì phải thất ước với một người chẳng hề làm một điều chi bất chính. 29 Nhưng vì không thể cưỡng lệnh vua, nên ông ta tìm dịp thuận tiện dùng mưu kế thi hành chỉ thị ấy. 30 Còn ông Ma-ca-bê, khi thấy Ni-ca-no tỏ ra lạnh nhạt với mình và đối xử cứng cỏi khác thường, thì hiểu rằng sự lạnh nhạt ấy tiên báo một điềm chẳng lành. Vì thế, ông tập hợp một số người theo ông trốn xa Ni-ca-no. 31 Sau khi nhận ra mình bị mắc mưu ông Giu-đa, Ni-ca-no tiến lên Ðền Thánh vĩ đại, đang lúc các tư tế dâng hy lễ như thường lệ. Ông ta truyền cho các tư tế phải trao nộp con người ấy. 32 Họ cương quyết thề rằng không biết người đang bị truy nã hiện nay ở đâu. 33 Ni-ca-no giơ tay phải về phía Ðền Thờ mà thề như sau: "Nếu các ngươi không bắt trói Giu-đa đem nộp cho ta, ta sẽ phá bình địa Ðền Thờ của Thiên Chúa, sẽ triệt hạ bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi sẽ dựng ngay tại đó một điện thờ nguy nga dâng kính thần Ði-ô-ny-xô." 34 Nói xong, ông ta bỏ đi. Nhưng các tư tế dang tay lên trời, khẩn cầu cùng Ðấng hằng chiến đấu cho dân tộc chúng ta. Họ cầu nguyện như thế này: 35 "Lạy Ðức Chúa, Ngài chẳng cần gì cả. Ngài ưa thích có một Ðền Thờ để lưu ngụ giữa chúng con. 36 Vậy nay, lạy Ðức Chúa, Ðấng vô cùng thánh thiện, xin Ngài gìn giữ mãi Ngôi Nhà này, vừa mới được thanh tẩy cho khỏi bị ô uế."
Cái chết của ông Ra-dít
37 Khi ấy có một người tên là Ra-dít, thuộc hàng kỳ mục ở Giê-ru-sa-lem, bị tố cáo với Ni-ca-no. Ông là một người yêu mến đồng bào mình, tiếng tăm lừng lẫy và được gọi là cha của dân Do-thái, vì ông đối xử nhân từ với họ. 38 Trong giai đoạn đầu thời loạn ly, ông bị buộc tội là giữ đạo Do-thái, nhưng thực ra ông chỉ đem hết nghị lực và cống hiến cuộc đời cho đạo ấy. 39 Ðể chứng tỏ lòng ác cảm vốn có từ lâu đối với người Do-thái, Ni-ca-no sai hơn năm trăm quân đi bắt ông Ra-dít, 40 vì nghĩ rằng một khi bắt được ông này, ông ta sẽ gây tai hoạ cho họ. 41 Nhưng khi bọn lính sắp chiếm được cái tháp, tông cửa vào sân và có lệnh đem lửa đến thiêu rụi các cửa, ông Ra-dít thấy mình bị bao vây tứ phía, đã rút gươm ra đâm vào mình. 42 Ông muốn chết vinh hơn là phải rơi vào tay bọn hung ác và bị nhục nhã, không xứng với địa vị cao quý của mình. 43 Nhưng, trong lúc hỗn loạn, mũi gươm đâm không trúng chỗ hiểm, hơn nữa quân địch lại đang tông cửa ùa vào bên trong, ông đã nhanh chân chạy lên bờ tường và anh dũng gieo mình xuống giữa đám đông. 44 Lập tức chúng giãn ra tạo thành một khoảng trống và ông rơi vào giữa. 45 Tuy còn thoi thóp thở, nhưng lòng bừng bừng nhiệt khí, ông chỗi dậy, máu chảy đầm đìa và bất kể vết thương đau đớn, ông chạy ngang qua đám đông; rồi đứng trên một tảng đá dốc, 46 mặc dù mất gần hết máu, ông cũng móc ruột xổ ra, cầm cả hai tay quăng vào đám đông. Ông khẩn cầu Ðấng làm chủ sự sống và hơi thở, xin Người một ngày kia ban lại cho ông sự sống và hơi thở. Ông qua đời như thế đó.
CHIA SẺ

Khi Kẻ Gian Tà Dùng Mưu Kế: Chương 14 kể về một nhân vật phản diện mới: Mê-na-lao, một tư tế bất trung, đã chạy đến với vua Đê-mê-tri-ô để tố cáo Giu-đa Ma-ca-bê. Ông ta âm mưu lợi dụng quyền lực ngoại bang để hại những người trung thành với Chúa. Vua đã cử Ni-ca-no đến tiêu diệt Giu-đa, một vị tướng được sai đến để đè bẹp dân Israel. Lúc đầu, ông có vẻ cởi mở, thân thiện với Giu-đa Ma-ca-bê, nhưng lòng ông dễ bị ảnh hưởng bởi những lời dèm pha và sự xúi giục của những kẻ ghét đạo. Giu-đa không sợ mưu gian, không dùng bạo lực mù quáng, mà trước hết kêu gọi cộng đoàn ăn chay và cầu nguyện để dọn lòng chuẩn bị chiến đấu vì chính nghĩa. Ngày nay, mưu kế của kẻ gian không còn chỉ nằm trong binh khí, mà núp bóng trong những lời dối trá, sự vu khống, dư luận sai lạc, truyền thông bẻ cong sự thật, và cả sự thỏa hiệp từ bên trong tâm hồn người tín hữu. Khi con người sống xa cầu nguyện, xa ánh sáng Lời Chúa, thì rất dễ bị đánh lừa, hoặc chính mình trở thành công cụ cho điều gian ác. Tôi có kiên trì trong đức tin khi gặp sự chống đối không? Tôi có dễ bị cám dỗ dựa vào quyền lực thế gian để đạt lợi ích cá nhân không? Tôi có sẵn sàng đối mặt với gian khó vì trung thành với Thiên Chúa không?
Niềm Tin Vững Vàng Dưới Sự Bách Hại: Sau một thời gian, Ni-ca-no thay đổi thái độ và quyết tâm tiêu diệt Giu-đa. Ông dùng bạo lực thay vì đối thoại, đe dọa các tư tế, và tìm cách bắt Giu-đa Ma-ca-bê. Nhưng thay vì bỏ cuộc, Giu-đa đã kêu gọi dân chúng đặt niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi có để lòng sợ hãi làm mình xa Chúa khi bị chống đối không? Tôi có sẵn sàng cầu nguyện và kiên trì khi gặp thử thách không? Tôi có dám đứng lên bảo vệ đức tin, ngay cả khi bị áp lực từ xã hội?
Trung Thành Với Thiên Chúa: Trung thành không chỉ là không chối Chúa, mà là luôn chọn Chúa mỗi ngày: giữa những cám dỗ, thỏa hiệp, sợ hãi, và lười biếng. Sự trung thành của cụ Ê-la-da không nằm ở một hành động oai hùng, mà ở chỗ không muốn làm gương xấu cho giới trẻ, dù chỉ là giả vờ ăn thịt cấm. Ni-ca-no đã tìm cách bắt Giu-đa, nhưng Chúa đã đứng về phía những người công chính. Giu-đa không trốn chạy mà vẫn tiếp tục lãnh đạo dân Chúa, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ niềm tin. Tôi có thực sự tin rằng Chúa sẽ bảo vệ những ai trung thành với Ngài không? Tôi có sẵn sàng chấp nhận hy sinh cá nhân để giữ vững đức tin không? Tôi có đặt lợi ích của Thiên Chúa lên trên những lợi ích trần thế không?

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 13 - MA-CA-BÊ 2

Cuộc chinh phạt của vua An-ti-ô-khô và tướng Ly-xi-a.
Ông Mê-nê-la-ô bị tử hình.
1 Năm một trăm bốn mươi chín, ông Giu-đa và những người theo ông nghe tin vua An-ti-ô-khô Êu-pa-to đem đoàn quân đông đảo tới đánh xứ Giu-đê. 2 Cùng đi với vua còn có Ly-xi-a, người giám hộ của vua và cũng là quan nhiếp chính; ông này dẫn một đạo quân Hy-lạp gồm một trăm mười ngàn bộ binh, năm ngàn ba trăm kỵ binh, hai mươi hai thớt voi và ba trăm xe trận có trang bị câu liêm.
3 Cả Mê-nê-la-ô cũng nhập bọn với chúng: ông ta dùng nhiều thủ đoạn để thuyết phục vua An-ti-ô-khô, không phải vì mục đích cứu nước, nhưng với hy vọng được nắm lại quyền hành. 4 Thế nhưng, Vua các vua đã khiến cho vua An-ti-ô-khô nổi giận với tên gian ác ấy; vì Ly-xi-a đã trình cho vua biết ông ta là người đã gây ra mọi tai hoạ, nên vua cho điệu ông ta đến Bê-roi-a để hành hình theo thói tục địa phương. 5 Ở đấy có một cái tháp cao hai mươi lăm thước, chứa đầy tro; trên đỉnh tháp có một cái máy lớn xoay tròn, phía nào cũng rớt thẳng xuống tro. 6 Kẻ nào can tội cướp của Ðền Thờ hay vi phạm bất cứ trọng tội nào khác, đều bị đưa lên và xô vào tháp cho chết. 7 Ðó là số phận cuối cùng của Mê-nê-la-ô, một tên phản bội Lề Luật; ông ta đã phải chết mà ngay cả một tấc đất để chôn cũng không có. 8 Thật là công bình! Vì ông ta đã mắc rất nhiều tội xúc phạm đến bàn thờ; mà lửa và tro bàn thờ đều thiêng thánh, nên ông ta đã phải chết trong đống tro.
Người Do-thái cầu nguyện và đã thành công ở gần thành Mô-đin
9 Vậy vua An-ti-ô-khô đến, lòng đầy những ý tưởng man rợ, định xử sự với người Do-thái tàn nhẫn hơn là phụ vương của ông trước kia. 10 Ðược tin ấy, ông Giu-đa ra lệnh cho toàn quân ngày đêm khẩn cầu Ðức Chúa, xin Người, bây giờ cũng như bao lần trước trợ giúp những kẻ sắp mất Lề Luật, tổ quốc và Ðền Thánh. 11 Xin Người đừng để dân tộc vừa mới được hồi sinh lại phải rơi vào tay chư dân ngạo mạn. 12 Sau khi mọi người đã cùng nhau làm như thế là than khóc, ăn chay và phủ phục suốt ba ngày, để kêu xin Ðức Chúa nhân từ, thì ông Giu-đa khích lệ và ra lệnh cho họ phải sẵn sàng. 13 Gặp riêng các kỳ mục rồi, ông quyết định: trước khi đoàn quân của vua An-ti-ô-khô xâm lược xứ Giu-đê và chiếm được thành Giê-ru-sa-lem, người Do-thái phải xuất quân và giải quyết mọi việc nhờ ơn Ðức Chúa trợ giúp.
14 Vì thế, sau khi phó thác quyết định cho Ðấng Tạo Hoá càn khôn, và khích lệ quân binh chiến đấu anh dũng cho đến chết để bảo vệ Lề Luật, Ðền Thờ, Thành Thánh, tổ quốc và thể chế, ông Giu-đa đóng quân gần thành Mô-đin. 15 Ông ra khẩu hiệu chiến đấu cho quân binh: "Thiên Chúa toàn thắng"; rồi tuyển một đoàn quân gồm trai tráng tinh nhuệ, đang đêm ông tấn công vào doanh trại của vua An-ti-ô-khô, giết được khoảng hai ngàn tên địch trong trại. Ông đâm chết con voi đầu đàn và tên quản tượng ngồi trong tháp. 16 Cuối cùng họ đã làm cho doanh trại địch kinh hoàng tán loạn; rồi họ rút lui trong chiến thắng vẻ vang, 17 lúc ấy ngày vừa bắt đầu. Cuộc tấn công đã kết thúc nhờ có Ðức Chúa che chở phù trợ ông Giu-đa.
Vua An-ti-ô-khô V thương thuyết với người Do-thái (1 Mcb 6:48-63)
18 Nếm cảm được sự táo bạo của người Do-thái, vua An-ti-ô-khô thử áp dụng chiến thuật đánh các vị trí quan trọng. 19 Vua tiến đánh Bết Xua, một pháo đài kiên cố của người Do-thái, nhưng bị đẩy lui, thất bại và bị đè bẹp.
20 Ông Giu-đa tiếp tế cho quân lính bên trong pháo đài những gì họ cần đến. 21 Nhưng Rô-đô-cô thuộc quân Do-thái tiết lộ bí mật cho quân thù, nên đã bị theo dõi, bị bắt và bị cầm tù. 22 Vua lại phải thương thuyết với dân thành Bết Xua một lần nữa, phải ngưng chiến với họ rồi rút lui. Vua cũng tấn công ông Giu-đa và những người theo ông, nhưng đã bị đè bẹp. 23 Hay tin Phi-líp-phê đã được vua để lại ở An-ti-ô-khi-a lo việc triều chính, nay làm loạn, nên vua bối rối. Vì thế, vua xin đầu hàng người Do-thái và thề chấp nhận mọi điều kiện chính đáng; vua cũng ký hoà ước, làm lễ tế, tôn trọng Ðền Thờ và dâng cúng hậu hỹ cho Nơi Thánh.
24 Vua niềm nở tiếp đón ông Ma-ca-bê, và đặt ông Hê-ghê-mô-nít làm tổng trấn cai trị từ Pơ-tô-lê-mai cho đến đất của người Ghe-ra. 25 Vua đến Pơ-tô-lê-mai, nhưng dân thành này không hài lòng về hiệp ước. Quả thật, họ bất mãn về các điều khoản trong hiệp ước, nên muốn huỷ bỏ. 26 Ly-xi-a lên diễn đàn, ra sức biện hộ, thuyết phục, trấn an dân thành và gây được thiện cảm với họ; rồi ông ta trở về An-ti-ô-khi-a. Ðó là chuyện về cuộc xuất chinh và rút lui của vua An-ti-ô-khô Êu-pa-to.
CHIA SẺ

Khi Đức Tin Bị Đe Dọa: Một cuộc tấn công mới của vua An-ti-ô-khô với ý định tiêu diệt hoàn toàn dân Israel. Ông kéo đến với một đạo quân hùng mạnh, cùng với tướng Ly-xi-a. Nhưng thay vì sợ hãi, Giu-đa Ma-ca-bê kêu gọi dân chúng đặt niềm tin vào Thiên Chúa và chuẩn bị chiến đấu. Giữa hoàn cảnh đó, ông Giu-đa Ma-ca-bê không chọn dựa vào sức người hay chiến lược quân sự là chính, nhưng kêu gọi toàn dân ăn chay, cầu nguyện và phó thác cho Thiên Chúa. Cuộc chiến trở thành biểu tượng cho mọi cuộc chiến mà người tín hữu phải đối diện: khi đức tin bị đe dọa, khi đời sống đạo gặp cản trở, khi sự dữ tưởng chừng thắng thế, người tin Chúa không chùn bước nhưng kiên trì trông cậy vào Ngài. Khi đức tin bị thử thách, tôi có dám đứng vững và tin vào Chúa không? Tôi có để cho nỗi sợ hãi làm tôi xa rời Thiên Chúa không? Tôi có cầu nguyện và phó thác khi gặp khó khăn, hay chỉ dựa vào sức riêng?

Sự Can Thiệp Của Thiên Chúa: Giữa tình cảnh bị đe dọa, dân Do Thái không hoảng loạn hay tuyệt vọng. Họ phó thác số phận vào tay Thiên Chúa, Đấng có thể xoay chuyển mọi hoàn cảnh. Chính lòng tin này đã mở lối cho sự can thiệp của Thiên Chúa: sự hỗn loạn xảy ra trong nội bộ địch, vua đổi ý, và dân Chúa được bảo toàn. Sự can thiệp của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng ồn ào hay ngoạn mục, nhưng luôn đến đúng lúc, đúng cách, dành cho những ai tin tưởng và trung thành với Ngài. Tôi có tin rằng Chúa luôn chiến đấu thay tôi trong những lúc khó khăn không? Tôi có nhận ra những ơn lành mà Chúa đã ban cho tôi, ngay cả khi tôi chưa cầu xin không? Tôi có dám để Chúa hướng dẫn đời tôi, hay chỉ muốn làm theo ý riêng?

Lòng Trung Thành Được Thưởng Công: tinh thần trung thành trọn vẹn của dân Chúa. Họ không chiến đấu bằng sức riêng, mà bằng một đức tin sống động. Họ tin rằng chiến thắng không đến từ binh khí hay chiến thuật, mà đến từ bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, Đấng mà họ phụng sự và trung tín. Cuộc chiến này không chỉ là sự đối đầu về quân sự, mà là cuộc chiến thiêng liêng giữa lòng trung thành và sự kiêu căng, giữa ánh sáng và bóng tối. Lòng trung thành luôn được Thiên Chúa nhìn thấy và đền đáp. Không phải lúc nào phần thưởng cũng là chiến thắng trước mắt; có khi đó là sự bình an trong tâm hồn, có khi là sự nâng đỡ âm thầm của Chúa, và có khi là một chiến thắng lớn lao để bảo vệ cả một dân tộc. Tôi có trung thành với Chúa trong những lúc khó khăn không? Tôi có sẵn sàng chiến đấu cho lẽ phải, dù điều đó có thể khiến tôi bị chống đối không? Tôi có tin rằng phần thưởng của những ai trung thành với Chúa là vững chắc và vĩnh cửu không?


Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 12 - MA-CA-BÊ 2

 Biến cố xảy ra tại Gia-phô và Giam-ni-a
1 Ký kết các hiệp ước xong, tướng Ly-xi-a trở về triều đình; còn người Do-thái quay lại với đồng áng. 2 Nhưng trong số các tổng trấn, có các tướng Ti-mô-thê, A-pô-lô-ni-ô con ông Ghen-nai-ô, Giê-rô-ni-mô và Ðê-mô-phôn, rồi cả tướng Ni-ca-no người Sýp, đã không để cho người Do-thái sống yên ổn thái bình.
3 Dân thành Gia-phô đã phạm một tội ác tày trời. Chúng mời người Do-thái cư ngụ trong thành đưa vợ con xuống những chiếc thuyền chúng đã bố trí sẵn, làm như thể không có hiềm thù chi với họ. 4 An tâm vì đã có một quyết định của toàn thể dân thành, người Do-thái nhận lời mời để chứng tỏ mình hiếu hoà và không chút ngờ vực. Nhưng khi ra khơi, họ bị nhận chìm, có ít nhất là hai trăm người chết.
5 Biết được tội ác dã man chúng gây ra cho đồng bào mình, ông Giu-đa đã loan tin cho quân lính. 6 Rồi sau khi khẩn cầu Thiên Chúa là thẩm phán công minh, ông tiến đánh bọn người đã giết hại anh em ông. Ðang đêm, ông phóng hoả đốt hải cảng, thiêu rụi thuyền bè, chém giết những kẻ trốn trong đó. 7 Vì nội thành đóng kín, ông rút về, nhưng vẫn giữ ý định sẽ trở lại làm cỏ toàn thành Gia-phô. 8 Tuy nhiên, khi biết những người ở Giam-ni-a cũng tính có những thủ đoạn tương tự đối với người Do-thái đang sinh sống tại đây, 9 ông Giu-đa cũng tấn công dân thành Giam-ni-a vào ban đêm, phóng hoả đốt hải cảng, thuyền bè. Mãi tận Giê-ru-sa-lem, cách đó khoảng năm mươi cây số, người ta còn thấy ánh lửa.
Chinh phạt vùng Ga-la-át (1 Mcb 5:9-54)
10 Lúc đó ông Giu-đa đem quân lên đường đi đánh tướng Ti-mô-thê. Vừa rời khỏi thành được hai cây số, ông đã bị người Ả-rập tấn công. Bọn này có ít nhất năm ngàn bộ binh và năm trăm kỵ mã. 11 Trận chiến diễn ra ác liệt. Nhờ có Thiên Chúa trợ giúp, quân của ông Giu-đa đã chiến thắng. Bị thất trận, dân du mục Ả-rập đã xin cầu hoà với ông Giu-đa. Chúng hứa sẽ nộp đàn súc vật cho ông và sẽ phục vụ ông bất cứ lúc nào. 12 Ông Giu-đa hiểu rằng chúng sẽ có thể giúp ích cho ông rất nhiều, nên đã chấp thuận cho chúng làm hoà. Sau khi ngưng chiến, chúng trở về phần đất của mình. 13 Ông Giu-đa cũng tấn công một thành kia có luỹ kiên cố và tường thành bao quanh; trong thành có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Thành đó gọi là Cát-pin. 14 Dân trong thành, cậy vào tường luỹ vững chắc và kho lương thực dự trữ, đã đối xử lỗ mãng với ông và những người theo phe ông: chửi bới, nói lời phạm thượng và thốt ra những câu thô lỗ tục tằn. 15 Ông Giu-đa và những người thuộc phe ông kêu cầu Chúa Tể càn khôn, Ðấng đã khiến cho thành Giê-ri-khô phải sụp đổ vào thời ông Giô-suê mà không cần máy phá thành hay chiến cụ. Rồi như mãnh thú, họ xông lên tường thành. 16 Nhờ thánh ý Thiên Chúa, họ đã chiếm được thành; họ ra tay chém giết, đến nỗi cái hồ bên cạnh rộng bốn trăm thước như lênh láng máu.
Trận đánh ở Các-ni-on (1 Mcb 5:37-44)
17 Rời khỏi đó, ông Giu-đa và những người thuộc phe ông đi một trăm bốn mươi cây số tới Kha-rắc, nơi người Do-thái, cũng gọi là người Tô-bi-a đang sinh sống. 18 Nhưng họ không gặp tướng Ti-mô-thê tại các nơi ấy, vì trước đó ông ta đã rút lui, bởi không làm nên công chuyện gì. Tuy nhiên, ông ta đã để lại một đội quân rất hùng hậu trấn giữ nơi ấy. 19 Các tướng lãnh của ông Ma-ca-bê là Ðô-xi-thê và Xô-xi-pát-rô vẫn tiến đánh và tiêu diệt được hơn mười ngàn địch quân mà tướng Ti-mô-thê đã để lại ở pháo đài. 20 Còn ông Ma-ca-bê thì chia đạo quân của mình thành nhiều cánh quân và đặt người chỉ huy những cánh quân ấy; rồi xông đánh tướng Ti-mô-thê, người đang nắm trong tay một trăm hai mươi ngàn bộ binh và hai ngàn năm trăm kỵ binh. 21 Ðược tin ông Giu-đa đang tới, tướng Ti-mô-thê cho đưa đàn bà, trẻ con và các đồ đoàn đến một nơi gọi là Các-ni-on, vì đây là một vị trí hiểm trở, khó lui tới, đường sá lại nhỏ hẹp. 22 Khi cánh quân thứ nhất của ông Giu-đa vừa xuất hiện, địch quân hốt hoảng, sợ hãi, vì Ðấng thấu suốt mọi sự đã hiển linh trên chúng. Chúng đổ xô chạy tứ tán đến nỗi nhiều lần gây thương tích lẫn cho nhau và bị đâm vì chính mũi gươm của mình. 23 Ông Giu-đa truy kích chúng gắt gao, tàn sát bọn hung hãn và tiêu diệt được khoảng ba ngàn tên. 24 Chính tướng Ti-mô-thê cũng rơi vào tay quân của các ông Ðô-xi-thê và Xô-xi-pát-rô; nhưng ông ta đã khéo lươn lẹo van nài xin được thả và được an toàn tính mạng. Ông ta viện cớ là đang bắt giữ cha mẹ và cả anh em của nhiều người trong đám quân lính và những người ấy có thể bị khốn đốn. 25 Vì thế, sau khi ông ta đã dài dòng thuyết phục họ bằng lời cam kết là sẽ đưa những người ấy trở về an toàn, thì, để cứu các anh em mình, họ đã thả ông ta ra.
26 Rồi ông Giu-đa tiến vào Các-ni-on, và A-téc-ga-tê-on, sát hại hai mươi lăm ngàn tên địch.
Ông Giu-đa từ Ép-rôn và Xi-ky-thô-pô-li trở về (1 Mcb 5:45-54)
27 Sau khi đánh bại và tiêu diệt quân thù, ông Giu-đa còn đem quân tiến đánh Ép-rôn, một thành kiên cố, nơi tướng Ly-xa-ni-a cùng với nhiều người thuộc các bộ lạc khác nhau đang trú đóng. Trai tráng được bố trí trước các tường thành; chúng chiến đấu anh dũng; bên trong lại có dự trữ nhiều máy móc và cung tên. 28 Sau khi kêu cầu Chúa Tể cao cả, Ðấng đã dùng quyền năng đập tan sức mạnh quân thù, người Do-thái chiếm được thành; họ sát hại chừng hai mươi lăm ngàn tên địch đồn trú trong đó. 29 Rời nơi ấy, họ tiến đánh Xi-ky-thô-pô-li, cách Giê-ru-sa-lem khoảng một trăm mười cây số. 30 Nhưng các người Do-thái sinh sống ở đó làm chứng rằng dân thành Xi-ky-thô-pô-li đối đãi với họ rất tử tế và tiếp đón họ ân cần trong cơn quẫn bách. 31 Ông Giu-đa và các người theo ông cám ơn dân thành này và khuyến khích họ cứ giữ mối thịnh tình này với người Do-thái.
Rồi ông giu-đa và các người theo ông trở về Giê-ru-sa-lem, gần ngày mừng lễ các Tuần.
Trận chiến chống lại tướng Goóc-ghi-át
32 Sau lễ gọi là lễ Ngũ Tuần, ông Giu-đa và các người theo ông tiến đánh tướng Goóc-ghi-át, tổng trấn miền I-đu-mê. 33 Goóc-ghi-át xuất trận cùng với ba ngàn bộ binh và bốn trăm kỵ binh. 34 Ðôi bên giao chiến và một số người Do-thái bị ngã gục.
35 Có một người tên là Ðô-xi-thê, một kỵ binh dũng cảm thuộc đạo quân miền Tô-bi-a. Ông khống chế được tướng Goóc-ghi-át, nắm lấy áo khoác trận của ông, lôi mạnh kéo đi và định bắt
36 Vì chiến đấu đã lâu, quân của ông Ét-ri-a mệt lử, nên ông Giu-đa kêu cầu cùng Ðức Chúa xin Người tỏ mình ra là Ðấng trợ chiến và chỉ huy cuộc giao tranh. 37 Sau đó, ông dùng tiếng mẹ đẻ thét lên lệnh xung phong và hát thánh thi, rồi xuất kỳ bất ý xông vào đám quân của tướng Goóc-ghi-át, khiến chúng phải thất trận.
Lễ tế cầu cho chiến sĩ trận vong
38 Ông Giu-đa thu quân và đến thành A-đu-lam. Ðã đến ngày thứ bảy, họ thanh tẩy theo tục lệ và mừng ngày sa-bát ở đó. 39 Ngày hôm sau, vào lúc phải làm, quân của ông Giu-đa đi thu các tử thi những người bị giết chết và đưa về chôn cất với những người thân trong phần mộ tổ tiên. 40 Nhưng bên trong áo trận của mỗi tử thi, người ta đều tìm thấy lá bùa của tượng thần ở Giam-ni-a: đó là điều luật cấm; vì thế ai cũng thấy rõ bởi lý do nào những người ấy đã bị giết chết. 41 Vậy mọi người chúc tụng Ðức Chúa, vì Người là thẩm phán công minh đã phơi bày ra ánh sáng những điều bí ẩn. 42 Họ bắt đầu khẩn nguyện, xin Chúa tẩy sạch tội lỗi đã phạm. Vị anh hùng Giu-đa khuyên nhủ toàn quân giữ mình sạch tội, vì họ đã nhìn thấy nhãn tiền những việc xảy ra là do tội của những người đã bị giết chết. 43 Ông Giu-đa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giê-ru-sa-lem để xin dâng lễ đền tội; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại. 44 Thực thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho người chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn. 45 Nhưng vì ông nghĩ đến phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đã an nghỉ trong tinh thần đạo đức. 46 Ðó là lý do khiến ông đến dâng lễ tế đền tạ cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi.
CHIA SẺ

Lòng Nhân Từ Của Giu-đa Ma-ca-bê: Sau một trận chiến, Giu-đa Ma-ca-bê phát hiện một số binh sĩ Israel đã chết, và họ mang theo các vật phẩm thờ thần ngoại. Ông nhận ra rằng họ đã phạm tội, và lập tức quyên góp bạc để gửi về Giêrusalem dâng hy lễ đền tội cho họ. Giu-đa đã không chỉ lo cho người sống, mà còn lo cho các chiến sĩ tử trận – dù họ đã phạm sai lầm. Ông không xét đoán, không kết án, nhưng tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, và muốn họ được thanh tẩy khỏi tội lỗi. Tôi có thường cầu nguyện cho những người đã khuất, đặc biệt là những người không ai nhớ đến không? Tôi có ý thức rằng hành động và tội lỗi của mình sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống đời sau không? Tôi có sẵn sàng làm việc lành, bác ái để giúp những linh hồn nơi luyện ngục không?

Đức Tin Vào Sự Sống Đời Sau: Hành động của Giu-đa Ma-ca-bê cho thấy niềm tin mạnh mẽ vào sự sống đời sau. Ông tin rằng những người chết sẽ được sống lại, và đó là lý do ông dâng lễ đền tội cho họ. Tôi có thực sự tin vào sự sống đời sau, hay tôi chỉ tập trung vào cuộc sống hiện tại? Tôi có chuẩn bị cho ngày mình ra đi bằng cách sống công chính và làm điều lành không? Tôi có biết phó thác người thân đã khuất cho Chúa, thay vì chỉ đau buồn không?

Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn: Câu chuyện này là nền tảng Kinh Thánh cho tín điều về Luyện Ngục. Giáo Hội dạy rằng các linh hồn nơi luyện ngục cần lời cầu nguyện của chúng ta, để họ sớm được hưởng hạnh phúc bên Chúa. Tôi có dành thời gian cầu nguyện cho các linh hồn mỗi ngày không? Tôi có tham dự Thánh Lễ và dâng hy lễ để giúp các linh hồn được thanh luyện không? Tôi có dạy con cháu mình về truyền thống cầu nguyện cho người đã khuất, để lòng bác ái này không bị lãng quên không?

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 11 - MA-CA-BÊ 2

 Cuộc chinh phạt thứ nhất của tướng Ly-xi-a (1 Mcb 4:26-35)
1 Ít lâu sau, hoàng thân Ly-xi-a là người giám hộ của vua và cũng là người nhiếp chính vô cùng phẫn uất vì những sự việc đã xảy ra. 2 Ông tập hợp chừng tám chục ngàn bộ binh và toàn thể kỵ binh, rồi lên đường tiến đánh người Do-thái. Mục đích của ông là biến Giê-ru-sa-lem thành nơi cư trú cho người Hy-lạp, 3 bắt Ðền Thờ phải nộp thuế như các đền thờ của dân ngoại và hằng năm bán chức thượng tế. 4 Ông chẳng đếm xỉa gì đến quyền năng của Thiên Chúa, nhưng lại quá tự tin vì có hàng vạn bộ binh, hàng ngàn kỵ mã và có đến tám chục thớt voi.
5 Vào xứ Giu-đê, ông tiến gần đến thành Bết Xua, một trọng điểm cách Giê-ru-sa-lem chừng hai mươi tám cây số, và vây hãm thành ấy. 6 Ông Ma-ca-bê và các chiến hữu nghe biết ông Ly-xi-a đến công hãm các pháo đài, liền cùng với dân khóc than kêu cầu Ðức Chúa, xin Người sai một sứ giả kịp thời đến cứu Ít-ra-en. 7 Rồi chính ông Ma-ca-bê là người đầu tiên cầm khí giới, khích lệ mọi người cùng với ông liều mạng cứu thoát anh em. Nhiệt khí bừng bừng, họ nhất tề xông vào trận chiến. 8 Lúc họ đến gần Giê-ru-sa-lem, thì bỗng có một kỵ binh mình mặc áo trắng, tay cầm khí giới bằng vàng, hiện ra chỉ huy họ. 9 Mọi người đồng thanh chúc tụng Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Họ cảm thấy hăng say phấn khởi đến nỗi sẵn sàng đâm chém không những kẻ thù, mà cả đến những con thú dữ dằn nhất; thậm chí ngay vách sắt tường đồng, họ cũng sẵn sàng chọc thủng. 10 Nhờ có Ðức Chúa xót thương và được một đồng minh từ trời xuống giúp, họ dàn trận tiến lên. 11 Như sư tử vồ mồi, họ xông vào quân địch, hạ sát mười một ngàn bộ binh, một ngàn sáu trăm kỵ mã, và buộc tất cả những tên khác phải tháo lui. 12 Ðại đa số bọn chúng bị thương, trút hết binh giáp chạy cứu lấy mạng; chính Ly-xi-a cũng phải đào thoát thật nhục nhã ê chề.
Hoà ước ký với người Do-thái. Bốn lá thư liên quan đến hoà ước.
(1 Mcb 6:56-61)
13 Nhưng ông Ly-xi-a không phải là người thiếu thông minh. Ông nghĩ lại việc thất trận vừa qua và nhận ra rằng sở dĩ người Híp-ri bách chiến bách thắng là nhờ có Thiên Chúa Toàn Năng liên minh trợ lực. 14 Ông sai sứ giả đến với họ, đề nghị ký một hoà ước dựa trên những điều kiện thoả đáng, và ông hứa sẽ thuyết phục nhà vua làm thân với họ. 15 Tất cả những điều ông Ly-xi-a đề nghị, ông Ma-ca-bê đều ưng thuận, vì chỉ quan tâm đến lợi ích chung. Cũng thế, những gì ông Ma-ca-bê đề nghị trong văn thư gửi ông Ly-xi-a liên quan đến người Do-thái, đều được nhà vua chấp nhận.
16 Sau đây là nội dung bức thư ông Ly-xi-a gửi cho người Do-thái: "Ly-xi-a gửi lời chào thăm toàn dân Do-thái. 17 Các ông Gio-an và Áp-sa-lôm được anh em cử đến gặp tôi, sau khi trình văn thư đính kèm, đã yêu cầu tôi chấp thuận những điều khoản được nêu ra trong đó. 18 Vì thế, tất cả những gì cần trình lên nhà vua, tôi đã đệ trình. Còn những vấn đề có thể giải quyết, tôi đã chấp thuận. 19 Vậy nếu anh em tiếp tục giữ thái độ hợp tình hợp lý đối với lợi ích quốc gia, thì trong tương lai tôi sẽ cố gắng phục vụ lợi ích của anh em. 20 Còn những vấn đề phụ, thì theo chỉ thị của tôi, sứ giả của anh em và đại diện của tôi sẽ thảo luận với nhau. 21 Chúc anh em vạn an. Năm một trăm bốn mươi tám, ngày hai mươi bốn tháng Ði-ô Cô-rin-tô."
22 Còn chiếu chỉ của nhà vua thì có nội dung như sau: "Vua An-ti-ô-khô gửi lời chào thăm người anh em Ly-xi-a. 23 Từ khi phụ vương ta về sum họp với chư thần, ta hằng mong muốn cho thần dân trong vương quốc được an cư lạc nghiệp. 24 Ta nghe biết người Do-thái không chịu sống theo phong tục Hy-lạp như phụ vương ta mong muốn, nhưng lại thích sống theo phong cách riêng của mình hơn, nên đã xin được giữ các luật lệ của mình. 25 Nay vì muốn cho dân tộc ấy được sống yên hàn, ta quyết định trả lại Ðền Thờ cho chúng, và cho phép chúng sống theo tục lệ cha ông. 26 Vậy ngươi hãy cho sứ giả đến gặp chúng và bắt tay làm hoà, để một khi biết được ý muốn của ta, chúng an tâm và vui vẻ làm ăn sinh sống."
27 Còn chiếu chỉ của vua gửi cho dân Do-thái thì có nội dung như sau: "Vua An-ti-ô-khô gửi lời thăm hỏi Hội đồng kỳ mục và toàn dân Do-thái. 28 Các ngươi được vạn an thì quả là điều ta mong ước. Phần ta, ta vẫn được khang kiện. 29 Mê-nê-la-ô đã trình cho ta biết nguyện vọng của các ngươi là trở về quê hương làm ăn sinh sống. 30 Vậy tất cả những ai lên đường trước ngày ba mươi tháng Xan-ti-cô sẽ được đảm bảo không bị trừng phạt. 31 Ta cho phép người Do-thái dùng thức ăn riêng, giữ các lề luật của mình như trước; không ai trong các ngươi bị trừng phạt cách nào vì những lỗi phạm vô ý. 32 Ta cũng đã sai Mê-nê-la-ô đến trấn an các ngươi. 33 Chúc các ngươi an mạnh. Năm một trăm bốn mươi tám, ngày mười lăm, tháng Xan-ti-cô."
34 Người Rô-ma cũng gửi thư cho người Do-thái, nội dung thế này: "Quyn-tô Mem-mi-ô, Ti-tô Ma-ni-li-ô và Ma-ni-ô Xéc-ghi-ô, sứ thần Rô-ma, gửi lời chào thăm dân Do-thái. 35 Những điều hoàng thân Ly-xi-a chấp thuận cho anh em, chúng tôi cũng tán thành. 36 Còn những điều hoàng thân xét là cần đệ trình đức vua, thì xin anh em xem xét cho kỹ, rồi phái người đến gặp chúng tôi ngay để chúng tôi có thể trình bày với đức vua cách nào có lợi nhất cho anh em, vì chúng tôi đang trên đường tới An-ti-ô-khi-a. 37 Vì thế xin anh em gấp rút phái người đến gặp chúng tôi, cho chúng tôi biết ý kiến. 38 Chúc anh em vạn an. Năm một trăm bốn mươi tám, ngày mười lăm tháng Xan-ti-cô."
CHIA SẺ

Đức Tin Mang Lại Hy Vọng: Sau khi Đền Thờ được thanh tẩy, người Do Thái vẫn phải đối mặt với một nguy cơ mới: tướng Ly-xi-a dẫn một đạo quân lớn đến đàn áp họ. Tuy nhiên, thay vì sợ hãi, Giu-đa Ma-ca-bê và dân Israel đã cùng nhau cầu nguyện, xin Chúa đứng về phía họ. Khi đối diện với những thử thách lớn lao, đức tin chân thật giúp ta biết quay về với Thiên Chúa, thay vì tuyệt vọng hoặc cậy dựa vào toan tính của con người. Khi gặp thử thách, tôi có đặt trọn niềm tin nơi Chúa hay chỉ dựa vào sức riêng? Tôi có nhớ rằng Chúa luôn thấy và biết mọi sự, ngay cả khi tôi cảm thấy lạc lõng không? Tôi có trung thành cầu nguyện ngay cả khi mọi thứ có vẻ bế tắc không?

Thiên Chúa Can Thiệp Và Ban Chiến Thắng: Thiên Chúa đã nhận lời cầu nguyện của dân Ngài. Khi quân Do Thái ra trận, Thiên Chúa sai các thiên thần đến giúp họ, khiến quân thù hoảng loạn và tháo chạy. Ly-xi-a, dù có lực lượng mạnh hơn, đã phải chấp nhận hòa bình với người Do Thái. Thiên Chúa đã nghe lời cầu xin và đã can thiệp. Chiến thắng không dẫn dân đến kiêu căng, mà đến với sự bình an và tạ ơn Thiên Chúa. Tôi có tin rằng Chúa vẫn đang hành động trong thế giới hôm nay, dù tôi không luôn thấy được không? Tôi có sẵn sàng chờ đợi cách Chúa giải quyết vấn đề của tôi, thay vì mất kiên nhẫn không? Tôi có dám tin rằng những thử thách lớn trong cuộc đời đều có thể trở thành cơ hội để Chúa tỏ mình ra không?

Hòa Bình Được Thiết Lập: Sau trận chiến, Ly-xi-a đã thương lượng với dân Do Thái và hứa để họ được sống theo lề luật của mình. Đây là một chiến thắng không chỉ về mặt quân sự mà còn về sự bảo vệ đức tin của dân Chúa. Hoà bình được thiết lập không phải nhờ sức mạnh của quân sự mà khi người công chính đứng vững. Tôi có dám đứng vững trong đức tin, ngay cả khi bị áp lực từ xã hội không? Tôi có tin rằng sống công chính sẽ đem lại bình an thực sự không? Tôi có sẵn sàng tha thứ và đón nhận hòa bình khi có cơ hội không?

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 10 - MA-CA-BÊ 2

Thanh tẩy Ðền Thờ (1 Mcb 4:36-61)
1 Nhờ có Ðức Chúa hướng dẫn, ông Ma-ca-bê và các chiến hữu đã chiếm lại Ðền Thờ và thành phố. 2 Các bàn thờ do quân dị chủng xây tại quảng trường, cũng như các nơi thánh, họ đều triệt hạ. 3 Sau khi đã thanh tẩy Ðền Thờ, họ làm một bàn thờ khác dâng lễ toàn thiêu. Họ đập đá lấy lửa, dùng lửa đó mà dâng hy lễ sau hai năm gián đoạn. Họ cũng thắp hương, đốt đèn và dâng bánh tiến như đã làm trước kia. 4 Làm xong, họ sấp mình phủ phục, nài xin Ðức Chúa đừng để họ lâm vào những thảm hoạ vừa qua. Nếu họ còn phạm tội, thì xin Người mở lượng khoan dung mà sửa phạt, chứ đừng trao nộp họ vào tay những dân phạm thượng và dã man. 5 Chính ngày trước kia Ðền Thờ bị dân dị chủng làm ô uế, thì nay cũng ngày ấy, Ðền Thờ được thanh tẩy, đó là ngày hai mươi lăm tháng Kít-lêu. 6 Họ hân hoan mừng lễ tám ngày liền, như mừng lễ Lều, để nhớ lại lễ Lều họ đã mừng trước đó ít lâu, khi họ còn phải sống trên rừng núi, trong hang sâu như loài dã thú. 7 Vì thế, tay cầm những bó hoa sim, những cành lá xanh tươi và những tàu chà là, miệng hát lên những bài thánh ca, họ chúc tụng Ðấng đã cho cuộc lễ thanh tẩy Nơi Thánh của Người được diễn tiến tốt đẹp. 8 Họ đã bỏ phiếu quyết định và chỉ thị cho toàn dân Do-thái hằng năm phải mừng các ngày lễ ấy.
VI. Ông Giu-Ða Chống Lại Các Dân Lân Bang
Và Tướng Ly-Xi-A Của Vua Êu-Pa-To
Ông Pơ-tô-lê-mai Mác-rôn bị thất sủng
9 Trên đây là những gì liên quan đến cái chết của vua An-ti-ô-khô hiệu Ê-pi-pha-nê. 10 Nay chúng tôi xin trình bày các biến cố dưới triều vua An-ti-ô-khô Êu-pa-to, con của vua vô đạo ấy. Chúng tôi lược tóm các tai hoạ do chiến tranh gây nên. 11 Số là vua Êu-pa-to vừa nắm quyền cai trị vương quốc, đã chỉ định một ông Ly-xi-a nào đó làm tể tướng và làm tổng trấn miền Coi-lê Xy-ri và Phê-ni-xi. 12 Ông Pơ-tô-lê-mai cũng gọi là Mác-rôn, thấy người ta bất công với dân Do-thái, nên ông là người đầu tiên đã đối xử công bằng với họ, và cố gắng lấy tinh thần hiếu hoà mà cai trị họ. 13 Do đó ông đã bị các bạn hữu của vua Êu-pa-to tố cáo với vua. Người ta không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không nói thẳng vào tai ông rằng ông là đồ phản nghịch. Lý do là vì vua Phi-lô-mê-tô đã trao đảo Sýp cho ông cai trị mà ông lại bỏ về quy thuận vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê. Rồi, vì không có khả năng chu toàn chức vụ, ông đã uống thuốc độc từ giã cuộc đời.
Tướng Goóc-ghi-át và các thành trì xứ I-đu-mê (1 Mcb 5:1-8)
14 Tướng Goóc-ghi-át được đặt làm tổng trấn vùng I-đu-mê. Ông mộ lính đánh thuê và lợi dụng mọi cơ hội để gây chiến với người Do-thái. 15 Cùng lúc ấy, cậy mình có những pháo đài kiên cố, người I-đu-mê quấy nhiễu người Do-thái. Họ lại còn tiếp đón những kẻ bị trục xuất khỏi Giê-ru-sa-lem và tìm mọi cách để gây chiến. 16 Ông Ma-ca-bê và các chiến hữu đã khẩn khoản nài xin Thiên Chúa cùng với họ chiến đấu. Rồi họ xông tới các pháo đài của người I-đu-mê. 17 Họ tấn công như vũ bão, chiếm các vị trí ấy và đẩy lui tất cả quân địch đang chiến đấu trên tường thành. Ai rơi vào tay họ là họ giết; họ đã hạ sát không dưới hai chục ngàn. 18 Ít nhất có chín ngàn tên trốn vào hai tháp canh rất kiên cố, được trang bị đầy đủ để có thể cầm cự lúc bị bao vây. 19 Ông Ma-ca-bê để các ông Si-môn, Giô-xếp và Dắc-cai ở lại đó cùng với số quân cần thiết để bao vây chúng; còn chính ông thì thân hành đến những nơi nào cần hơn. 20 Nhưng quân lính của ông Si-môn tham lam nên đã bị một số người trong các tháp canh ấy dùng tiền mua chuộc. Họ đã nhận bảy mươi ngàn quan tiền và để cho một số địch tẩu thoát. 21 Ðược tin này, ông Ma-ca-bê liền triệu tập các thủ lãnh trong dân lại và kết tội họ vì tham tiền mà bán đứng anh em, thả kẻ thù ra để chúng đánh lại. 22 Ông xử tử những kẻ can tội phản bội, và lập tức ông chiếm được hai tháp canh. 23 Bách chiến bách thắng, ông tiêu diệt hơn hai mươi ngàn địch trong hai pháo đài ấy.
Ông Giu-đa hạ tướng Ti-mô-thê và chiếm Ghe-de
24 Tướng Ti-mô-thê trước đây đã bị người Do-thái đánh bại, nay chiêu mộ vô số lính đánh thuê và tập trung rất nhiều chiến mã từ A-xi-a đưa về. Ông tiến đến Giu-đê nhằm dùng vũ lực chiếm lấy xứ này. 25 Khi ông đến gần, ông Ma-ca-bê và các chiến hữu liền khẩn cầu Thiên Chúa, bỏ bụi đất lên đầu, mặc áo vải thô, 26 sấp mình phủ phục ngay dưới chân phía trước của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu. Họ xin Người thương xót, trở thành kẻ thù của kẻ thù họ, đối phương của đối phương họ như Lề Luật đã nói rõ.
27 Cầu nguyện xong, họ mang khí giới đi ra khỏi thành một quãng khá xa. Ðến gần kẻ thù, họ dừng lại. 28 Bình minh vừa ló rạng, đôi bên giáp chiến; một bên tin chắc sẽ chiến thắng vẻ vang vì dựa vào lòng dũng cảm của mình, đồng thời vào sự trợ giúp của Ðức Chúa, còn bên kia lấy căm thù làm động lực chiến đấu. 29 Ðang khi trận chiến diễn ra ác liệt, thì quân địch thấy trên trời xuất hiện năm nhân vật lẫm liệt oai phong, cỡi ngựa ngậm hàm thiết vàng, chỉ huy quân Do-thái. 30 Các vị này kéo ông Ma-ca-bê vào giữa, lấy áo giáp của mình che chở cho ông, giữ gìn ông cho khỏi bị thương tích. Họ nhắm quân địch mà bắn tên tung chớp, khiến chúng loà mắt chạy tán loạn và bị đánh tan tành. 31 Hai mươi ngàn năm trăm tên địch và hơn sáu trăm kỵ binh đã bị hạ sát. 32 Còn chính tướng Ti-mô-thê thì phải trốn vào một pháo đài gọi là Ghe-de. Pháo đài này là một thành trì rất kiên cố do tướng Khai-rê-a chỉ huy. 33 Ông Ma-ca-bê và các chiến hữu đã hăng say phấn khởi vây thành này được bốn ngày. 34 Những kẻ bên trong ỷ vào địa thế an toàn, nên cứ nặng lời phạm thượng và thốt ra những câu thô lỗ tục tằn. 35 Rạng sáng ngày thứ năm, trong số các chiến hữu của ông Ma-ca-bê, có hai mươi thanh niên nghe những lời lộng ngôn kia thì đùng đùng nổi giận. Họ sôi sục khí thế nam nhi, xông lên tường thành, gặp ai giết nấy, như những con thú đang nổi giận. 36 Những người khác cũng tiến lên đánh tập hậu những kẻ bị vây hãm bên trong, phóng hoả đốt các tháp canh và nhóm lửa thiêu sống bọn lộng ngôn. Trong khi đó, hai mươi thanh niên kia phá cổng, đón cánh quân còn lại tiến chiếm thành. 37 Họ hạ sát tướng Ti-mô-thê đang trốn trong một bể nước; họ giết luôn tướng Khai-rê-a em ông cùng với ông A-pô-lô-pha-nê. 38 Sau chiến thắng này, họ hát những bài thánh thi, những câu ca ngợi mà chúc tụng Ðức Chúa là Ðấng đã ban xuống Ít-ra-en bao hồng ân cao cả và đã cho họ chiến thắng quân thù.
CHIA SẺ

Thanh Tẩy Và Cung Hiến Đền Thờ:  Sau nhiều năm bị xúc phạm bởi vua An-ti-ô-khô, Đền Thờ Giêrusalem đã được quân đội của Giu-đa Ma-ca-bê giải phóng. Họ thanh tẩy Đền Thờ, dựng lại bàn thờ và tổ chức lễ cung hiến với lòng biết ơn Thiên Chúa. Tâm hồn tôi có đang bị hoen ố bởi tội lỗi, cần được thanh tẩy không? Tôi có dành thời gian để cung hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa, như họ đã làm với Đền Thờ không? Tôi có cảm tạ Chúa mỗi khi Người giúp tôi vượt qua thử thách không?

Chiến Thắng Cho Người Công Chính: Giu-đa Ma-ca-bê không chỉ khôi phục Đền Thờ mà còn tiếp tục chiến đấu chống lại các kẻ thù của Israel. Chúa đã ban chiến thắng cho họ, vì họ đã trung thành với Ngài. Khi gặp thử thách, tôi có tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa không? Tôi có chiến đấu để giữ gìn đức tin và sự công chính, hay dễ dàng thỏa hiệp? Tôi có tin rằng Chúa sẽ bảo vệ những ai trung thành với Ngài không?

Lễ Cung Hiến, Khởi Thân Của Lễ Hanukkah: Lễ cung hiến Đền Thờ mà Giu-đa Ma-ca-bê tổ chức chính là nguồn gốc của Lễ Hanukkah (Lễ Cung Hiến Đền Thờ hoặc Lễ Hội Ánh Sáng), một ngày lễ quan trọng của người Do Thái, kéo dài tám ngày để tưởng nhớ việc Thiên Chúa phục hồi sự thánh thiện cho Đền Thờ. Hanukkah cũng được Chúa Giêsu nhắc đến trong Tin Mừng Ga 10,22.  Hanukkah không chỉ là một lễ hội truyền thống, mà còn là một bài học sâu sắc về đức tin, lòng trung thành, và niềm hy vọng. Ánh sáng nhỏ bé nhưng kiên trì có thể xua tan bóng tối lớn lao nhất. Tôi có biết giữ vững truyền thống đức tin, như người Do Thái vẫn nhớ đến Hanukkah không? Tôi có trân trọng các bí tích của Giáo Hội, đặc biệt là Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải không? Tôi có dành thời gian để tạ ơn Chúa về những chiến thắng lớn nhỏ trong đời mình không?

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 09 - MA-CA-BÊ 2

 Cái chết của vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê (1 Mcb 6:1-17)
1 Vào thời ấy, vua An-ti-ô-khô đã phải rút lui khỏi các miền thuộc Ba-tư, chẳng vẻ vang chút nào. 2 Số là vua đã đến một thành phố tên là Péc-xê-pô-li, xông vào cướp của đền thờ và chiếm luôn thành ấy. Vì thế dân thành đã đứng lên cầm khí giới tự vệ. Bấy giờ dân bản xứ đánh cho vua An-ti-ô-khô phải bỏ chạy và xấu hổ rút quân. 3 Trong lúc đang ở Éc-ba-tan, vua nghe biết những chuyện đã xảy đến cho tướng Ni-ca-no và cho quân của tướng Ti-mô-thê. 4 Vua đùng đùng nổi giận, tưởng rằng sẽ trút được lên đầu người Do-thái nỗi nhục của kẻ phải tháo chạy. Vì thế vua ra lệnh cho người đánh xe phải phóng thẳng một mạch không được ngừng. Vua tự cao tự đại tuyên bố: "Ðến Giê-ru-sa-lem, ta sẽ biến thành này nên mồ chôn tập thể cho bọn Do-thái." Vua đâu biết rằng bản án của Chúa Trời đang chờ đợi vua. 5 Quả thế, vua vừa nói xong thì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en là Ðấng thấu suốt mọi sự, đã bắt vua mang một chứng bệnh không thuốc chữa, và không ai thấy. Ruột gan vua quặn đau dữ dội, hết cơn này đến cơn khác. 6 Âu cũng là chuyện hợp lý thôi, bởi vì vua đã từng làm cho bao người khác phải đau lòng xót dạ và bắt họ chịu vô vàn nỗi thống khổ chưa từng thấy. 7 Thế nhưng vua vẫn không chừa được tính ngạo nghễ, vẫn giữ thói kiêu căng, cứ phun lửa giận trên đầu người Do-thái, nên mới ra lệnh phải chạy mau hơn nữa. Xe đang chạy ầm ầm thì đột nhiên, vua ngã văng ra thật mạnh, khiến toàn thân đều bị thương tích. 8 Chỉ vừa mới đây, vì kiêu ngạo không ai bằng, vua tưởng mình có quyền ra lệnh cho sóng cả, có sức đem núi lớn đặt lên bàn cân, thì bây giờ đang nằm sóng sượt trên mặt đất và phải nhờ người khác cáng đi. Ðiều đó chứng tỏ cho mọi người thấy quyền năng của Thiên Chúa. 9 Khắp thân mình kẻ vô đạo ấy, giòi bọ cứ nhung nhúc. Và tuy vua còn sống, thịt cứ rữa ra từng mảng làm cho vua đau đớn vô cùng. Mùi hôi thối xông lên khiến cả đạo quân không sao chịu được. 10 Mới một lát trước đây, vua tưởng chừng như sao trên trời cũng ở trong tầm tay, thì giờ đây không ai thèm khiêng vua nữa, vì không chịu nổi mùi hôi thối nồng nặc.
11 Mãi đến lúc này, khi toàn thân đã rữa, vua mới bắt đầu chừa được thói kiêu ngạo thái quá, mới biết thân biết phận nhờ trận đòn Thiên Chúa giáng xuống và nhờ những cơn đau không ngớt hoành hành. 12 Chính vua cũng không sao chịu nổi mùi hôi thối của mình, nên đã nói: "Suy phục Thiên Chúa là phải đạo. Ðã mang thân phận phải chết, thì đừng nghĩ sẽ bằng được Thiên Chúa." 13 Vua gian ác này đã khấn hứa với Chúa Tể, nhưng Người đâu còn xót thương được nữa. Vua đã hứa 14 là sẽ tuyên bố Thành Thánh được tự do, vì trước đây vua hăm hở đến đó nhằm phá cho bình địa và biến thành mồ chôn tập thể. 15 Còn những người Do-thái và con cái họ, trước kia vua xét là chẳng đáng được chôn, nhưng chỉ đáng quẳng cho mãnh thú và cho chim săn mồi, thì nay vua hứa là sẽ cho được bình quyền với dân thành A-thê-na. 16 Vua còn hứa là Ðền Thánh vua đã cướp phá thì vua sẽ dâng cúng những báu vật tuyệt hảo để trang hoàng; đồ thờ thì vua cũng sẽ đền gấp bội; còn các khoản chi phí cho việc tế tự, vua sẽ lấy quỹ riêng mà đài thọ. 17 Cuối cùng, vua hứa sẽ trở thành tín đồ Do-thái và bất cứ nơi đâu có người ở, vua sẽ đến công bố quyền năng của Thiên Chúa.
Vua An-ti-ô-khô gửi thư cho người Do-thái
18 Nhưng đau đớn vẫn không giảm chút nào, vì án công minh của Thiên Chúa đã giáng xuống. Trong tình trạng tuyệt vọng, vua đã viết cho người Do-thái một lá thư được ghi lại dưới hình thức một lời thỉnh nguyện, nội dung như sau:
19 "An-ti-ô-khô, vua và thẩm phán tối cao, gửi lời vấn an, lời chúc khang ninh và thịnh vượng đến thần dân Do-thái quý mến. 20 Nếu các ngươi và con cái được an mạnh, công ăn việc làm được như ý, thì ta tạ ơn Thiên Chúa hết lòng. 21 Phần ta, tuy đang liệt giường và kiệt sức, nhưng vẫn nhớ đến lòng kính trọng và tấm thịnh tình các ngươi dành cho ta. Từ các miền thuộc Ba-tư trở về, ta đã lâm trọng bệnh, tưởng cần phải lo cho nền an ninh chung của mọi người. 22 Ta không thất vọng về sức khoẻ của mình, trái lại, vẫn rất hy vọng được khỏi bệnh. 23 Nhưng ta thấy xưa kia, mỗi khi đi chinh phạt các miền thượng du, phụ vương ta đều đã chỉ định người kế vị, 24 để nếu có chi bất ngờ xảy đến, hoặc có tin gì đồn ra, thì thần dân biết việc triều chính đã được trao cho ai rồi, khỏi lo lắng gì nữa. 25 Ngoài ra, ta cũng biết rằng các vương hầu lân bang, các thủ lãnh của các nước chung quanh vương quốc hằng rình rập thời cơ, chờ cho biến cố bất ngờ xảy tới. Vì thế, nay ta chỉ định hoàng tử An-ti-ô-khô lên kế vị. Ðã nhiều lần ta ân cần gửi gắm hoàng tử cho nhiều người trong các ngươi, mỗi khi ta lên các tỉnh miền thượng du. Ta cũng viết cho hoàng tử lá thư đính kèm. 26 Vậy ta khuyến cáo, ta yêu cầu các ngươi hãy nhớ lại các ân huệ chung hay riêng ta đã ban. Mỗi người hãy giữ mối thiện cảm vẫn dành cho ta và cho hoàng tử. 27 Quả thật ta xác tín rằng hoàng tử sẽ nghiêm chỉnh theo đuổi đường lối của ta trong tinh thần khoan dung và nhân đạo, mà sống hoà hợp với các ngươi."
28 Như vậy vua sát nhân và lộng ngôn này đã phải chịu đau đớn kinh khủng như chính vua đã làm cho người khác phải đau khổ. Vua đã chịu số phận hẩm hiu là kết liễu cuộc đời nơi đất khách quê người, trên miền rừng núi. 29 Ông Phi-líp-phê, người bạn của vua từ thời thơ ấu, đã mang xác vua về. Nhưng vì sợ hoàng tử của vua An-ti-ô-khô, ông Phi-líp-phê đã lánh qua Ai-cập, sống với ông Pơ-tô-lê-mai Phi-lô-mê-tô.
CHIA SẺ

Cái Chết Nhục Nhã Của An-ti-ô-khô: An-ti-ô-khô, vị vua đã bách hại dân Israel, xúc phạm Đền Thờ, và giết hại nhiều người vô tội, cuối cùng đã phải chịu hình phạt từ Thiên Chúa. Khi đang trên đường chinh phạt, ông bị một cơn bệnh quái ác, cơ thể thối rữa và hôi hám, đến mức không ai có thể đến gần. Khi con người cho mình là “chúa tể”, khinh thường Thiên Chúa và mạng sống con người, thì tự đào mồ chôn mình. Tôi có đang kiêu ngạo, tin rằng mình có thể làm mọi sự mà không cần Chúa không? Tôi có hành xử bất công với người khác, mà quên rằng Thiên Chúa là Đấng công bằng không? Tôi có nhận ra lỗi lầm của mình và kịp thời ăn năn trước khi quá muộn không?

Sự Ăn Năn Muộn Màng Của An-ti-ô-khô: Khi sắp chết, An-ti-ô-khô nhận ra lỗi lầm của mình và cầu xin Chúa tha thứ. Ông hứa sẽ sửa đổi, sẽ làm nhiều điều tốt cho dân Israel, nhưng đã quá muộn. Thiên Chúa luôn mở rộng cánh cửa tha thứ, nhưng không phải mọi hành vi sai trái đều có thể gỡ bỏ hậu quả ngay lập tức. Một hoán cải chân thành phải đi kèm với lòng khiêm nhường và thay đổi thực sự, chứ không chỉ là một sự ăn năn vì sợ hãi đau khổ. Tôi có chờ đến khi quá muộn mới quay về với Chúa không? Tôi có biết chủ động hoán cải mỗi ngày, hay chỉ đợi đến lúc khốn cùng mới nghĩ đến Chúa? Tôi có sẵn sàng tha thứ cho những ai quay trở về với lòng ăn năn chân thành không?

Cái Chết Phơi Bày Sự Thật Về Đời Người: An-ti-ô-khô, từng là vị vua quyền thế, nay trở thành thân xác tan rữa, không ai dám đến gần. Cái chết của ông làm phơi bày một chân lý giản đơn: Con người chỉ là tro bụi, mọi quyền lực, danh vọng rồi sẽ tiêu tan. Tôi đang xây dựng đời mình trên điều gì: danh vọng chóng qua hay kho báu trên trời? Tôi có sống mỗi ngày với ý thức rằng Chúa thấy mọi hành động của tôi không?

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

CHƯƠNG 08 - MA-CA-BÊ 2

 V. Do-Thái Giáo Thắng Thế.
Kẻ Bắt Ðạo Phải Chết. Ðền Thờ Ðược Thanh Tẩy.
Ông Giu-đa Ma-ca-bê vào mật khu (1 Mcb 3:1-26)
1 Ông Giu-đa Ma-ca-bê và những người cùng phe bí mật len lỏi vào các làng. Họ kêu gọi bà con thân thích, liên kết những người vốn trung thành với đạo Do-thái. Họ đã quy tụ được khoảng sáu ngàn người. 2 Họ cầu khẩn Ðức Chúa, xin Người đoái nhìn đám dân đang bị mọi người bị chà đạp và đoái thương Ðền Thờ đã bị quân vô đạo làm cho ra ô uế. 3 Họ cũng xin Người xót thương thành phố đã bị phá huỷ gần như bình địa, và lắng nghe máu người vô tội đang kêu lên Người. 4 Xin Người nhớ đến các trẻ thơ vô tội bị tàn sát dã man và những lời lộng ngôn phạm đến Danh Người; xin tỏ ra lòng Người ghê tởm sự dữ.
5 Một khi ông Ma-ca-bê chỉ huy quân đội, thì không dân tộc nào chống cự nổi, và Ðức Chúa đã đổi cơn thịnh nộ thành lòng xót thương. 6 Ông xuất hiện bất ngờ, đốt các thành và làng mạc, chiếm các vị trí xung yếu và buộc khá đông quân thù phải tháo chạy. 7 Thừa lúc đêm tối, ông tung ra các cuộc tấn công như thế. Tiếng đồn về lòng dũng cảm của ông lan ra khắp vùng.
Giao tranh với Ni-ca-no và Goóc-ghi-át (1 Mcb 3:38 - 4:27)
8 Ông Phi-líp-phê nhận thấy con người ấy càng ngày càng tiến và càng thành công, nên đã viết thư cho ông Pơ-tô-lê-mai đang chỉ huy vùng Coi-lê Xy-ri và Phê-ni-xi, xin ông đến trợ giúp công việc của vua. 9 Ông này liền chọn ông Ni-ca-no là con ông Pát-rốc-lô và là một trong những bạn hữu thân thiết nhất của vua, rồi sai ông đem không dưới hai mươi ngàn quân thuộc mọi sắc dân đi tiêu diệt toàn thể giống nòi Do-thái. Ông còn cấp thêm cho ông Ni-ca-no một phụ tá là ông Goóc-ghi-át, một tướng lãnh dày kinh nghiệm chiến trường. 10 Ông Ni-ca-no trù tính bán tù binh Do-thái lấy sáu mươi ngàn ký bạc nộp cho vua để triều cống người Rô-ma. 11 Lập tức ông cho người tới các thành phố miền duyên hải, mời người ta đến mua các nô lệ Do-thái và dạm bán với giá chín mươi tên là ba mươi ký bạc. Ông đâu ngờ rằng Ðấng Toàn Năng sắp giáng phạt ông.
12 Người ta cho ông Giu-đa biết là ông Ni-ca-no đang tới gần; ông Giu-đa liền thông báo cho người của ông hay là giặc đã đến. 13 Các kẻ nhát gan và những người không tin vào sự trừng phạt của Thiên Chúa đã chạy tán loạn khắp nơi. 14 Những người khác thì bán hết những gì còn lại, đồng thời cầu xin Ðức Chúa giải thoát những ai đã bị Ni-ca-no vô đạo đem bán trước khi giao chiến. 15 Nếu Người không vì họ mà giải thoát, thì ít ra cũng vì giao ước Người đã lập với tổ tiên họ, và vì Danh oai nghiêm cao cả của Người mà họ không ngớt kêu cầu.
16 Vậy ông Giu-đa Ma-ca-bê tập hợp dân quân lại, sĩ số chừng sáu ngàn. Ông khích lệ cho họ đừng sợ kẻ thù tác oai tác quái, cũng đừng vì thấy các dân vô cớ đem nhiều quân đến đánh mà sợ. Ông khuyên họ hãy can đảm chiến đấu, 17 đừng bao giờ quên là chúng đã xúc phạm nặng nề đến Nơi Thánh, đã ngược đãi hành hạ dân thành, và còn phế bỏ truyền thống của cha ông. 18 Ông nói: "Quả thật, bọn chúng vừa cậy vào khí giới, vừa cậy vào lòng dũng cảm của mình, còn chúng ta, chúng ta tin cậy vào Thiên Chúa Toàn Năng. Trong nháy mắt, Người có thể triệt hạ không những bất cứ ai chống lại chúng ta, mà còn có thể triệt hạ toàn thế giới." 19 Ông còn kể lại cho họ biết tổ tiên đã được ơn phù trợ như thế nào: chẳng hạn dưới thời Xan-kê-ríp, một trăm tám mươi ngàn người đã bị tiêu diệt. 20 Rồi trong trận chiến đánh người Ga-lát ở Ba-by-lon cũng vậy: số người tham chiến tất cả chỉ có tám ngàn, cộng thêm bốn ngàn quân Ma-kê-đô-ni-a, thế mà lúc quân Ma-kê-đô-ni-a gặp khó khăn, thì tám ngàn người kia đã tiêu diệt được một trăm hai mươi ngàn địch: chính nhờ có Chúa Trời cứu giúp mà họ đã thắng lớn.
21 Nhờ lời ông nói mà dân quân thêm can đảm và sẵn sàng chết vì Lề Luật, vì tổ quốc. Ông chia quân làm bốn đơn vị. 22 Ðứng đầu mỗi đơn vị, ông đặt một người anh em của ông: đó là ông Si-môn, Giô-xếp và Giô-na-than, mỗi người chỉ huy một ngàn năm trăm quân. 23 Ngoài ra, ông còn chỉ thị cho ông Ét-ri-a đọc Sách Thánh. Rồi sau khi ra khẩu hiệu "Thiên Chúa phù hộ", chính ông chỉ huy đơn vị thứ nhất tiến đánh Ni-ca-no. 24 Nhờ có Ðấng Toàn Năng liên minh trợ chiến, họ đã giết hơn chín ngàn quân địch, đánh bị thương và làm cụt chân tay đại đa số quân khác của tướng Ni-ca-no, đồng thời buộc tất cả quân còn lại phải chạy trốn. 25 Họ cũng tịch thu số tiền của những người định đến mua họ làm nô lệ. Sau khi đuổi theo quân địch một quãng đường khá dài, họ đành phải quay về vì thời giờ bắt buộc: 26 lúc ấy là chiều áp ngày sa-bát rồi, họ không thể tiếp tục đuổi theo chúng được nữa. 27 Sau khi lấy khí giới của địch và thu hồi chiến lợi phẩm, họ mừng ngày sa-bát, hết lòng chúc tụng và ngợi khen Ðức Chúa, vì chính ngày hôm đó Người đã cứu thoát họ, đã mở lòng thương xót họ. 28 Sau ngày sa-bát, họ chia một phần chiến lợi phẩm cho những người đã bị bách hại và cho các cô nhi quả phụ; phần còn lại, họ và con cái họ chia nhau. 29 Chia xong, họ tổ chức cầu nguyện chung với nhau, xin Ðức Chúa mở lượng từ bi mà ban cho các tôi tớ Người được mãi mãi giao hoà với Người.
Các tướng Ti-mô-thê và Bắc-khi-đê thất trận
30 Trong cuộc giao tranh với quân của tướng Ti-mô-thê và Bắc-khi-đê, quân của ông Giu-đa đã giết được hơn hai chục ngàn tên, chiếm được những pháo đài rất cao. Chiến lợi phẩm thu được nhiều vô kể, họ chia thành hai phần đều nhau: một phần cho họ, một phần cho những người đã bị bách hại, cho cô nhi quả phụ và cho cả những người già lão. 31 Thu khí giới của địch quân xong, họ cẩn thận đem cất vào chỗ an toàn; còn lại bao nhiêu lợi phẩm, họ mang về Giê-ru-sa-lem.32 Họ giết được tên chỉ huy, một trong những người thân cận của Ti-mô-thê; hắn độc ác vô cùng, đã bao phen gieo tai rắc hoạ cho người Do-thái. 33 Trong khi mừng chiến thắng ở quê nhà, họ thiêu sống những kẻ đã phóng hoả đốt các cửa Ðền Thờ, rồi thiêu luôn Ca-lít-thê-nê đang trốn trong một cái nhà nhỏ; thế là hắn đã nhận lấy phần thưởng xứng đáng dành cho kẻ phạm thánh.
Tướng Ni-ca-no chạy trốn và tuyên bố có Thiên Chúa
34 Còn tướng Ni-ca-no đại gian đại ác, kẻ dẫn đưa một ngàn con buôn đến mua người Do-thái, 35 thì đã bị hạ nhục. Những người hạ nhục hắn chính là những người hắn cho là hèn hạ. Âu cũng nhờ có bàn tay Ðức Chúa trợ giúp. Hắn đã phải trút bỏ hết quân phục sang trọng, một thân một mình băng qua đồng ruộng mà trốn như một tên nô lệ đào tẩu. May mắn lắm hắn mới về được An-ti-ô-khi-a, vì lúc ấy đạo quân của hắn đã bị tiêu diệt rồi. 36 Con người này vốn huênh hoang là sẽ bán tù binh ở Giê-ru-sa-lem lấy tiền chu toàn phận sự triều cống người Rô-ma. Nay hắn phải tuyên bố rằng người Do-thái có vị thần nào đó bảo vệ, nên không thể bị hại bao lâu họ còn sống theo Lề Luật Vị ấy truyền.

CHIA SẺ

Người Lãnh Đạo Mới: Sau cái chết của bảy anh em tử đạo, Thiên Chúa không bỏ rơi dân Israel. Giu-đa Ma-ca-bê đứng lên lãnh đạo quân kháng chiến chống lại kẻ bách hại. Ông và những người theo ông chiến đấu không vì danh lợi, mà vì lề luật của Chúa và Đền Thờ. Tôi có sẵn sàng đứng lên bảo vệ đức tin của mình trước những thử thách không? Tôi có chiến đấu vì sự thật và công lý, hay tôi dễ dàng thỏa hiệp để tránh rắc rối? Tôi có phó thác mọi sự trong tay Chúa như Giu-đa và các chiến binh của ông không?
Thiên Chúa Ban Chiến Thắng: Giu-đa Ma-ca-bê và quân của ông không có nhiều vũ khí và số lượng ít hơn kẻ thù, nhưng họ có đức tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Họ chiến thắng vì họ tin rằng Chúa sẽ chiến đấu cùng họ. Khi gặp khó khăn, tôi có tin rằng Chúa luôn ở cùng tôi không? Tôi có dám bước đi với lòng tin tưởng, ngay cả khi hoàn cảnh có vẻ bất lợi không? Tôi có biết chiến đấu với những cám dỗ và thử thách trong đời sống hằng ngày không?
Cầu Nguyện Và Hành Động: Trước khi ra trận, Giu-đa và quân của ông cầu nguyện tha thiết. Họ không dựa vào sức riêng, nhưng luôn phó thác cho Chúa. Cầu nguyện không làm họ thụ động, mà thúc đẩy họ hành động mạnh mẽ hơn. Tôi có dành thời gian cầu nguyện trước khi quyết định điều gì không? Phải chăng tôi chỉ có cầu nguyện mà không hành động, hay tôi biết kết hợp cả hai? Tôi có để Chúa hướng dẫn hành động của tôi không?