Hiển thị các bài đăng có nhãn 53. Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 53. Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 16 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 Kết Luận 
Những lời dặn dò, thăm hỏi và lời cầu chúc cuối cùng.
(1) Về việc quyên tiền giúp các thánh, tôi đã truyền dạy cho các Hội Thánh ở Galát như thế nào, thì anh em cũng làm như vậy. (2) Ngày thứ nhất trong tuần, mỗi người trong anh em hãy để riêng ra những gì đã may mắn thu góp được, chứ đừng đợi khi tôi đến rồi mới quyên. (3) Khi tới, tôi sẽ cử những người được anh em chấp thuận đi Giêrusalem, mang thư và quà anh em đã rộng rãi quyên tặng. (4) Và nếu xét là tôi nên đi, thì họ sẽ cùng đi với tôi.
(5) Tôi sẽ đến thăm anh em, sau khi ghé Makêđônia, bởi vì tôi sẽ đi qua đó. (6) Có lẽ tôi sẽ ở lại và qua mùa đông với anh em nữa, để anh em đưa tôi đến những nơi tôi sẽ đến. (7) Thật thế, tôi không muốn chỉ ghé qua thăm anh em mà thôi, nhưng còn hy vọng ở lại với anh em ít lâu, nếu Chúa cho phép. (8) Tôi sẽ ở lại Êphêxô cho đến lễ Ngũ Tuần, (9) bởi vì ở đó cửa đã rộng mở cho tôi, để tôi hoạt động, nhưng đối thủ cũng nhiều.
(10) Anh Timôthê có đến, thì anh em hãy lo cho anh ấy ở với anh em mà không phải e ngại gì, vì anh ấy cũng làm việc Chúa như tôi. (11) Vậy đừng có ai khinh anh ấy. Xin anh em đưa anh ấy trở về an toàn với tôi, vì tôi cùng anh em ở đây đang chờ anh ấy. (12) Còn về anh Apôlô, tôi đã tha thiết xin anh ấy đến thăm anh em cùng với các anh em khác. Nhưng lúc này anh ấy nhất định không chịu đi, anh ấy sẽ đi khi có dịp thuận tiện.
(13) Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong Ðức tin, hãy sống cho đáng bậc nam nhi và ăn ở kiên cường. (14) Hãy làm mọi sự vì đức ái.
(15) Thưa anh em, tôi có một lời khuyên nữa, anh em biết gia đình Têphana: họ là những người đầu tiên trở lại đạo tại xứ Akhaia và đã dấn thân phục vụ các thánh. (16) Anh em hãy tuân phục những người như thế và những người cùng vất vả cộng tác với họ. (17) Tôi vui mừng vì có Têphana, Photunatô và Akhaicô đến thăm, bởi vì họ thế cho anh em là những người vắng mặt. (18) Thật vậy, họ đã làm cho tinh thần của tôi và của anh em được bình an thanh thản. Vậy anh em hãy biết quý trọng những người như thế.
(19) Các Hội Thánh Axia gửi lời chào anh em. Aquila và Pơrítca cùng với Hội Thánh họp tại nhà họ gửi lời chào anh em trong Chúa. (20) Tất cả các anh em ở đây gửi lời chào anh em. Anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện.
(21) Chính tôi, Phaolô, tự tay viết lời chào này.
(22) Nếu ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp! "Maranatha!".
(23) Cầu chúc anh em đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu!
(24) Tôi thương mến tất cả anh em trong Ðức Kitô Giêsu.
CHIA SẺ
 Đức ái dành cho những người thiếu thốn (c.1-4). Những chỉ dẫn này liên quan đến những chia sẻ mà Phao-lô nhận từ những Hội thánh khác để giúp cho những người tín hữu thiếu thốn ở vùng Giu-đê (Rm 15:15-27). Những nguyên lý bao hàm trong đó có thể áp dụng cho việc chia sẻ của các Ki-tô hữu một cách chung: việc chia sẻ của chúng ta phải mang tính tự nguyện, qua việc hướng đến những phúc lành của Thiên Chúa, mang tính hệ thống, và trao ban một cách thật lòng. Chia sẻ có nhiều cách thức, vì chúng ta có nhiều điều để có thể chia sẻ với những người khác. Điều gì thúc đẩy bạn trong việc chia sẻ, và việc làm đó có sinh lợi gì trong đời sống của bạn?
Đức ái dành cho những người lãnh đạo (c.5-12). Chúng ta có đặc ân để khích lệ của công việc của Thiên Chúa khi chúng ta cầu nguyện cho những người tôi tớ của Ngài. Ngay cả những con người như Phao-lô, Ti-mô-thê, và A-pô-lô đã cần sự giúp đỡ và khích lệ của dân Chúa. Bạn cầu nguyện như thế nào cho những người lãnh đạo hay chỉ là những chỉ trích và phê bình?
Đức ái dành cho Hội thánh (c.13-18). Đức mến, tính kiên định, và sự quy phục làm nên một hội thánh vững mạnh. Khi bạn có những người sốt sắng để làm việc cho Chúa, những người làm mới bạn trong Chúa, Ngài sắp sửa chúc lành cho bạn. Thật là một niềm vui khi là một phần của gia đình Hội thánh, mà nơi đó có các thừa tác viên thực hiện trong đức mến! Bạn có thấy mình thuộc về cộng đoàn Giáo hội địa phương của mình đang sinh hoạt, hay đây cũng chỉ là một địa chỉ mà bạn hay ghé lại theo một chu kỳ? Bạn có thấy mình mang lấy những thao thức và bận  tâm với những gì đang xảy ra trong cộng đoàn của bạn, vì đây là một phần quan trọng trong cuộc sống của bạn?
Đức ái dành cho Đức Ki-tô (c.19-24). “Lạy Chúa, xin hãy đến!” là một lời cầu nguyện mà cho thấy sự báo trước hằng ngày của Phao-lô về việc trở lại của Đức Giê-su. Khi ngài thực hiện những kế hoạch này (c.5-8), ngài bao hàm trong đó niềm hy vọng hồng phúc. Bạn có yêu mến Ngài và yêu mến sự trở lại của Ngài (2. Tm 4:8)?

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 15 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 III. Kẻ Chết Sống Lại 
Sự kiện sống lại
(1) Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. (2) Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.
(3) Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Ðức kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, (4) rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. (5) Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Muời Hai. (6) Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. (7) Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Ðồ. (8) Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.
(9) Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Ðồ, tôi không đáng được gọi là Tông Ðồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. (10) Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.
(11) Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.
(12) Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Ðức Kitô đã từ cõi chết chỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? (13) Nếu kẻ chết không sống lại, thì Ðức Kitô đã không chỗi dậy. (14) Mà nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. (15) Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Ðức Kitô chỗi dậy, trong khi thực sự Người đã không cho Ðức Kitô chỗi dậy. (16) Vì nếu kẻ chết không chỗi dậy, thì Ðức Kitô cũng đã không chỗi dậy. (17) Mà nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. (18) Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Ðức Kitô cũng bị tiêu vong. (19) Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.
(20) Nhưng không phải thế! Ðức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. (21) Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. (22) Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Ðức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. (23) Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Ðức Kitô, rồi khi Ðức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. (24) Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quần thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.
(25) Thật vậy, Ðức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. (26) Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, (27) vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Ðức Kitô. Mà khi nói "muôn loài", thì dĩ nhiên không kể Ðấng đặt muôn loài dưới chân Ðức Kitô. (28) Lúc muôn loài đã quy phục Ðức Kitô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Ðấng bắt muôn loài phải quy phục Người; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.
(29) Chẳng vậy, những người chịu phép rửa thế cho kẻ chết thì được gì? Nếu tuyệt nhiên kẻ chết không chỗi dậy, thì tại sao người ta lại chịu phép rửa thế cho kẻ chết? (30) và chính chúng tôi, tại sao hằng giờ chúng tôi liều mình đương đầu với hiểm họa? (31) Thưa anh em, mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết: tôi có hãnh diện về anh em trong Ðức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, thì mới quả quyết như vậy. (32) Nếu vì những lý do phàm trần mà tôi đã chiến đấu với thú dữ tại Êphêxô, thì điều đó nào có ích gì cho tôi? Nếu kẻ chết không chỗi dậy, thì chúng ta cứ ăn cứ uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết. (33) Anh em chớ có lầm: "Chơi với kẻ xấu, người tốt cũng ra xấu". (34) Ðừng say sưa nữa mới phải phép, và chớ phạm tội: một số người quả không biết gì về Thiên Chúa. Tôi nói như vậy để anh em phải xấu hổ.
Cách thức kẻ chết sống lại
(35) Nhưng có người sẽ nói: kẻ chết chỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về? (36) Ðồ ngốc! Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống. (37) cái người gieo không phải là hình thể sẽ mọc lên, nhưng là một hạt trơ trụi, chẳng hạn như hạt lúa hay một thứ nào khác. (38) Rồi Thiên Chúa cho nó một hình thể như ý Người muốn: giống nào hình thể nấy.
(39) Không phải mọi thể xác đều giống nhau: của loài người thì khác, của loài vật thì khác, của loài chim thì khác, của loài cá thì khác. (40) Lại có những vật thể thuộc thiên giới và những vật thể thuộc địa giới. Nhưng vẻ rạng rỡ của những vật thể thuộc thiên giới thì khác, vẻ rạng rỡ của những vật thể thuộc địa giới thì khác. (41) Ánh mặt trời thì khác, ánh mặt trăng thì khác, ánh tinh tú thì khác, bởi vì ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia. (42) Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; (43) gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ, (44) gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí.
Nếu có thân thể có sinh khí, thì cũng có thân thể có thần khí. (45) Như có lời đã chép: con người đầu tiên là Ađam được dựng nên thành một sinh vật, còn Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống. (46) Loài xuất hiện trước không phải là loài có thần khí, nhưng là loài có sinh khí; loài có thần khí chỉ xuất hiện sau đó. (47) Người thứ nhất bởi đất mà ra thì thuộc về đất; còn người thứ hai thì từ trời mà đến. (48) Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Ðấng từ trời mà đến. (49) Vì thế, cũng như chúng ta đã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Ðấng từ trời mà đến.
(50) Thưa anh em, điều tôi muốn nói là xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa được, cũng như cái hư nát không thể thừa hưởng sự bất diệt được. (51) Ðây tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi (52) trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ chỗi dậy mà không hư nát; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi. (53) Quả vậy, cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử.
Khải hoàn ca
(54) Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Ðây giờ chiến thắng! (55) Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? (56) Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. (57) Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
(58) Bởi vậy, anh em thân mến, anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa, vì biết rằng: trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích.
CHIA SẺ
 Chúng ta có một Thiên Chúa sống động (c.1-19). Đức Giê-su vẫn sống, và sứ điệp Tin mừng là thật! Những chứng nhân đã thấy Ngài và đã trao lại cho chúng ta chứng từ của họ. Khi bạn tín thác nơi Ngài, bạn nhận được sự sống lại, sự sống vĩnh cửu (Ga 5:24); sự chết không làm chủ bạn được nữa. Bạn sẽ làm gì với chiến thắng mà Đức Ki-tô đã ban tặng cho bạn?
Chúng ta có một niềm hy vọng sống động (c.20-49). Đức Giê-su Ki-tô sẽ trở lại, và ai chết trong Đức Ki-tô sẽ được chỗi dậy. Chúng ta sẽ có những thân xác vinh quang giống như thân xác của Đức Ki-tô (1Ga 3:1-3). Điều này có giúp bạn thay đổi thái độ của mình về sự chết, và giúp bạn sống cách trưởng thành và viên mãn?
Chúng ta có động lực sống động (c.50-58). Chúng ta không có lý do gì để bỏ cuộc bởi vì Đức Giê-su đã chiến thắng tội lỗi và sự chết! Nếu bạn thật sự tin vào sự phục sinh và trở lại của Ngài, câu 58 sẽ đặc trưng hóa đời sống của bạn. Điều tốt nhất chưa đến, vì thế chúng ta hãy trao cho Ngài ngay bây giờ điều tốt nhất của chúng ta. Đã bao giờ bạn cảm thấy mệt mỏi và chán nản mất hết động lực để đi tiếp? Trong những lúc như vậy đâu là phương thế giúp bạn vượt qua khó khăn?

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 14 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 Thứ bậc các đặc sủng để mưu cầu ích chung
(1) Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khát khao những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri. (2) Thật vậy, kẻ nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu. (3) Còn người nói tiên tri thì nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi. (4) Kẻ nói tiếng lạ thì tự xây dựng chính mình; người nói tiên tri thì xây dựng Hội Thánh. (5) Tôi muốn cho tất cả anh em nói các tiếng lạ, và nhất là tôi muốn cho anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói các tiếng lạ, trừ phi người này giải thích để xây dựng Hội Thánh.
(6) Thưa anh em, giờ đây, giả như tôi đến cùng anh em mà chỉ nói các tiếng lạ, giả như lời nói của tôi không đem lại cho anh em một mặc khải, một sự hiểu biết, hay không phải là một lời tiên tri, một lời giáo huấn, thì nào có ích gì cho anh em? (7) Như thế, có khác chi những nhạc cụ không hồn, như sáo như đàn: nếu âm thanh không rõ, thì làm sao nhận ra được cung nhạc tiếng đàn? (8) Thật vậy, giả như kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn bị chiến đấu? (9) Anh em cũng thế: nếu miệng lưỡi anh em chẳng nói những lời có thể hiểu được, thì làm sao người ta biết điều anh em nói? Anh em chỉ nói bông lông thôi! (10) trong thiên hạ, có rất nhiều thứ ngôn ngữ, nhưng không có thứ nào là vô nghĩa. (11) Vậy nếu tôi kông biết giá trị của ngôn ngữ, thì tôi sẽ là kẻ man dã đối với người nói, và người nói là kẻ man dã đối với tôi. (12) Anh em cũng vậy: vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh.
(13) Vì thế, kẻ nói tiếng lạ thì phải xin cho được ơn giải thích. (14) Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ thì lòng tôi cầu nguyện, nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì. (15) vậy, phải làm sao? Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng, nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa. Tôi sẽ ca hát với tấm lòng, nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa. (16) Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi, thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa "Amen" lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì? (17) Ðã hẳn, lời tạ ơn của bạn tốt đẹp thật, nhưng không xây dựng cho người khác. (18) Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em, (19) nhưng trong cộng đoàn, thà tôi nói năm ba tiếng có thể hiểu được để dạy dỗ kẻ khác, còn hơn là nói hàng vạn lời bằng tiếng lạ.
(20) Thưa anh em, về mặt phán đoán thì đừng sống như trẻ con; về đàng dữ, sống như trẻ con thì được, nhưng về mặt phán đoán thì phải là người trưởng thành. (21) Trong Lề Luật có chép: Chúa phán rằng: Ta sẽ dùng những người nói tiếng khác lạ và môi miệng người ngoại quốc mà nói với dân này; dù thế, chúng cũng chẳng nghe Ta. (22) Vì thế, các tiếng lạ được dùng làm dấu hiệu, không phải cho những người tin, mà cho những kẻ không tin; còn lời ngôn sứ thì không phải là cho những kẻ không tin, mà cho những người tin. (23) Vậy giả như cả cộng đoàn họp lại một nơi và mọi người đều nói các tiếng lạ, mà khi đó có người ngoài cuộc hay người không tin đi vào, thì họ chẳng bảo là anh em điên sao? (24) Còn nếu mọi người đều nói tiên tri, mà có người không tin hoặc người ngoài cuộc đi vào, người đó sẽ thấy mình bị mọi người khiển trách, mọi người xét xử. (25) Những điều bí ẩn trong lòng người đó sẽ bị lộ, và như thế, người đó sẽ sấp mình xuống mà thờ lạy Thiên Chúa, tuyên bố rằng: "Hẳn thật, Thiên Chúa ở giữa anh em".
Các đặc sủng. Quy luật thực tiển.
(26) Vậy, thưa anh em, phải kết luận thế nào? Khi anh em hội họp, người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy, người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ, người thì giải nghĩa: tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh. (27) Nếu có nói tiếng lạ, thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi, mỗi người cứ theo phiên mà nói, và phải có một người giải thích. (28) Nếu không có người giải thích, thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn, mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi. (29) Về các ngôn sứ, chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi, còn những người khác thì phân định. (30) Nếu có ai ngồi đó được ơn mặc khải, thì người đang nói phải im đi. (31) Mọi người có thể lần lượt nói tiên tri, để ai nấy đều được học hỏi và khích lệ. (32) Ngôn sứ thì làm chủ những cảm hứng tiên tri của mình, (33) bởi vì Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Thiên Chúa tạo bình an. Như thói quen trong mọi cộng đoàn các thánh, (34) phụ nữ phải làm thinh trong các buổi họp, vì họ không được phép lên tiếng; trái lại, họ phải sống phục tùng như chính Lề Luật dạy. (35) Nếu họ muốn tìm hiểu điều gì, thì cứ về nhà hỏi chồng, bởi vì phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn thì không còn thể thống gì. (36) Lời Thiên Chúa có phát xuất từ anh em không? Hay lời ấy chỉ đến với một mình anh em mà thôi? (37) Nếu ai tưởng mình là ngôn sứ hoặc được Thần Khí linh hứng, thì hãy nhìn nhận rằng các điều tôi viết đây là mệnh lệnh của Chúa. (38) Ai không nhận biết điều ấy, thì cũng không được Chúa biết đến.
(39) Cho nên, thưa anh em, anh em hãy khao khát ơn nói tiên tri và đừng ngăn cấm nói các tiếng lạ. (40) Nhưng hãy làm mọi sự cách trang nghiêm và có trật tự.
CHIA SẺ
 Có khi nào bạn tự hỏi: tại sao mình lại đi tham dự Thánh lễ? Dân Chúa tập hợp cho một mục đích: thờ phượng Thiên Chúa. Họ thờ phượng Ngài qua việc cầu nguyện và ca ngợi (c.15), dạy dỗ và giảng dạy (c.3). Thờ phượng phải đem đến kết quả tôn vinh Thiên Chúa, phúc lành cho dân Chúa (c.3), và sợ hãi cũng như kết án đối với những người tội nhân (c.23-25).
Nhưng vì để những điều này xảy ra, Đức Giê-su Ki-tô phải là Đức Chúa của cuộc đời chúng ta, và chúng ta phải thuộc về Thần Khí. Nếu chúng ta đến nhà thờ để khoe khoang đời sống thiêng liêng của mình, chúng ta sẽ không chỉ đánh mất phúc lành của mình nhưng còn gây cho những người khác cùng một hậu quả như vậy. Chúng ta đến là để tôn kính Ngài.
Một từ chủ chốt của chương này đó là xây dựng (c.3-5,12,17,26). Việc tham gia phụng vụ phải để tôn vinh Thiên Chúa và xây dựng nên các thánh, chứ không phải để những người tham dự trở nên tự đắc.
Mỗi người tín hữu với những quà tặng được ban cho như những nốt nhạc khác nhau để cùng hòa lên thành một bản nhạc để ca tụng Thiên Chúa. Đâu là âm thanh mà cuộc sống của bạn phát ra? Âm thanh trong cuộc sống của bạn có khác với âm thanh của thế gian chăng? Âm thanh đó được vang lên giữa nơi phố chợ như thế nào? Trong đời sống hôn nhân của bạn? Trong công việc làm của bạn? Giữa những người bạn hữu khác của bạn? Trong gia đình của bạn? Và trong cộng đoàn nơi bạn thuộc về? Âm thanh đó có hợp với những nốt nhạc khá  để hòa lên khúc ca tôn vinh Thiên Chúa?

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 13 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 (1) Giả như tôi có nói được các thứ tiếng
của loài người và của các thiên thần đi nữa,
mà không có đức mến,
thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,
chũm chọe xoang xoảng.
(2) Giả như tôi được ơn nói tiên tri,
và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu,
hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non,
mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.
(3) Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí,
hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt,
mà không có đức mến,
thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
(4) Ðức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
(5) không làm điều bất chính, không tư lợi,
không nóng giận, không nuôi hận thù,
(6) không mừng khi thấy sự gian ác,
nhưng vui khi thấy điều chân thật.
(7) Ðức mến tha thứ tất cả,
tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.
(8) Ðức mến không bao giờ mất được.
Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời.
Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết.
Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn.
(9) Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần,
ơn nói tiên tri cũng có hạn.
(10) Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi.
(11) Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con,
hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con;
nhưng khi tôi đã thành người lớn,
thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.
(12) Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương,
mai sau sẽ được mặt giáp mặt.
Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn,
mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.
(13) Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến,
cả ba đều tồn tại,
nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.
CHIA SẺ
 Chương này được gọi là bài ca đức mến là bản văn của thánh Phao-lô để giải quyết vấn đề những người yếu đuối trong thân thể Hội thánh ở Corinto. Những người tín hữu có những quà tặng thiêng liêng, nhưng họ thiếu ân sủng thiêng liêng và đã cần được nhắc nhở tại đức ái quá quan trọng trong đời sống của người Ki-tô hữu.
Đức mến đặt chất lượng vào trong việc phục vụ (c.1-3). Khi bạn có lòng mến, những lời nói và việc làm của bạn để hướng về một điều gì đó và giúp người khác.
Đức mến cũng đặt sự trưởng thành vào trong nhân cách (c.4-7). Những người Corinto đã thiếu kiên nhẫn với nhau, đưa nhau ra tòa, dễ dãi với những tội trong cộng đoàn, và gây nên những vấn đề bởi vì họ đã không có lòng mến. Bất kỳ phẩm chất nào mà bạn có thể sở đắc, chúng chẳng là gì nếu bạn không có đức ái.
Đức mến đặt tính vĩnh hằng vào trong cuộc sống (c.8-13). Tình yêu kéo dài, và tình yêu sẽ làm nên điều tồn tại mãi. Tình yêu là điều lớn lao nhất và làm điều lớn lao nhất bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8).
Nếu tấm gương mà bạn được mời gọi để nhìn là bài ca đức ái, với từng đặc tính của đức ái mà thánh Phao-lô liệt kê trong chương này, hình ảnh nào mà bạn thấy khi bạn nhìn vào trong gương? bạn sẽ nhìn thấy ai trong gương đó? Liệu hình ảnh đó cho thấy bạn được dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, vì Ngài chính là tình yêu? Khi cầu nguyện với chương này hãy thế chữ  đức mến bằng tên của bạn, bạn có tâm tình, lời mời gọi hay quyết tâm gì?

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 12 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 Ân huệ của Thần Khí hay đặc sủng
(1) Thưa anh em, tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về các ân huệ thiêng liêng. (2) Anh em biết rằng khi còn là người ngoại, anh em bị lôi cuốn mãnh liệt vào việc thờ cúng các ngẫu tượng câm. (3) Vì thế, tôi nói cho anh em biết: chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: "Giêsu là đồ khốn kiếp!"; cũng không ai có thể nói rằng: "Ðức Giêsu là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí.
Ðặc sủng tuy nhiều, nhưng chung một gốc
(4) Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. (5) Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. (6) Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi nguòi. (7) Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. (8) Người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. (9) Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. (10) Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. (11) Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người.
So sánh với thân thể
(12) Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Ðức Kitô cũng vậy. (13) Thật thế, tất cả chúng ta, là Dothái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.
(14) Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. (15) Giả như chân có nói: "Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. (16) Giả như tai có nói: "Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. (17) Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi?
(18) Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. (19) Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? (20) Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. (21) Vậy mắt không có thể bảo tay: "Tao không cần đến mày"; đầu cũng không thể bảo hai chân: "Tao không cần chúng mày".
(22) Hơn nữa, những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; (23) và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng trang nhã hơn hết. (24) Còn những bộ phận trang nhã thì không cần gì cả. Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. (25) Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. (26) Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.
(27) Vậy anh em, anh em là thân thể Ðức Kitô, và mỗi người là một bộ phận. (28) Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Ðồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. (29) Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, (30) ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?
Thứ bậc các đặc sủng. Bài ca đức mến.
(31) Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.
CHIA SẺ
 Những người tín hữu Côrintô là những quà tặng đặc biệt do Thiên Chúa (c.1:4-7), nhưng một số họ lại tạo nên những vấn đề bởi sử dụng những quà tặng thiêng liêng của mình trong những cách thức không có tính thánh thiêng. Thánh Phao-lô đã nhắc nhở những người này về ba chân lý cơ bản.
Chỉ có một Đức Chúa (c.1-11). Thần Khí đã tôn vinh Đức Ki-tô (Ga 16:14), không phải tôn vinh Ngài. Thần Khí ban cho chúng ta những quà tặng nhờ đó chúng ta có thể phục vụ Đức Ki-tô và Hội thánh Ngài “vì lợi ích của mọi người” (c.7) và không phải cho những niềm vui ích kỷ của cá nhân mình. Bạn có khám phá ra những gì Thần Khí vẫn ban cho bạn? Bạn có tạ ơn Thiên Chúa về điều đó, và bạn có sử dụng những quà tặng của mình dưới quyền của Đức Ki-tô?
Chỉ có một thân thể (c.12-31). Trong tư cách là những thành viên của cùng một thân thể, chúng ta thuộc về nhau, và chúng ta cần đến nhau. Có những người tín hữu mà bạn nghĩ rằng sự hiện diện của họ chả có ảnh hưởng gì đến công việc của bạn, lại có thể là những người bạn cần đến nhất! Mọi người phải là những thừa tác viên cho nhau và chăm sóc nhau như một thân thể. Trong năm Tân Phúc Âm Hóa Giáo Xứ này, bạn có thấy mình thuộc về giáo xứ mình hơn, và biết quan tâm đến những gì đang diễn ra trong cộng đoàn xứ đạo mình?
Có một sự nguy hiểm (c.25). Khi một bộ phận trong cơ thể đòi độc lập khỏi những phần khác, nó bắt đầu chết đi và bạn phải đi gặp bác sĩ. Sự chia rẽ trong Giáo hội địa phương đem đến sự yếu kém và đau đớn (1:10-17) bởi vì không có người Ki-tô hữu nào có thể chỉ một mình và thành công. Bạn có tạ ơn Thiên Chúa về những người Ki-tô hữu đồng hành với mình và tìm cách để quan tâm, chăm sóc họ?

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 11 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

(1) Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Ðức Kitô. 
3. Trật Tự Trong Cộng Ðoàn 
Trang phục của phụ nữ
(2) Tôi có lời khen anh em đã nhớ đến tôi trong mọi dịp và nắm giữ các truyền thống tôi đã để lại cho anh em. (3) Nhưng tôi muốn anh em biết rằng thủ lãnh của người nam là Ðức Kitô, thủ lãnh của người nữ là người nam, và thủ lãnh của Ðức Kitô là Thiên Chúa. (4) Phàm người nam nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà che đầu, thì hạ nhục Ðấng làm đầu mình. (5) Phàm người nữ nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà lại để đầu trần, thì làm nhục kẻ làm đầu mình, vì người ấy như thể trọc đầu vậy. (6) Nếu người nữ để đầu trần, thì cứ cắt tóc đi! Nhưng nếu cắt tóc hay trọc đầu là một điều xấu hổ đối với người nữ, thì hãy che đầu lại! (7) Người nam không được che đầu, bởi vì là hình ảnh và vinh quang của Thiên Chúa; còn người nữ là vinh quang của người nam. (8) Thật vậy, không phải người nam tự người nữ mà có, nhưng người nữ tự người nam. (9) Cũng chẳng phải người nam được dựng nên vì người nữ, nhưng người nữ vì người nam. (10) Bởi thế, người nữ phải mang trên đầu một dấu hiệu phục tùng, vì có các thiên thần. (11) Tuy nhiên, trong Chúa, không nam thì chẳng có nữ, và không nữ thì chẳng có nam. (12) Thật thế, như người nữ tự người nam mà có, thì người nam cũng bởi người nữ mà sinh ra, và mọi sự đều tự Thiên Chúa mà có.
(13) Anh em hãy tự xét xem: người nữ không che đầu mà cầu nguyện với Thiên Chúa thì có xứng hợp không? (14) Chính thiên nhiên lại không dạy anh em rằng người nam mà để tóc dài là điều ô nhục, (15) còn người nữ mà để tóc dài thì lại là vinh dự cho họ đó sao? Là vì Thiên Chúa ban cho người nữ mái tóc làm khăn che đầu.
(16) Ngoài ra, nếu có ai nghĩ mình phải cãi lý, thì đó không phải là thói quen của chúng tôi, cũng như không phải là thói quen trong các Hội Thánh của Thiên Chúa.
Bữa tiệc của Chúa
(17) Nhân lúc đưa ra các chỉ thị này, tôi chẳng khen anh em đâu, vì những buổi họp của anh em không đem lại lợi ích gì, mà chỉ gây hại. (18) Thật thế, trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau, và tôi tin là điều ấy có phần nào đúng. (19) Những sự chia rẽ giữa anh em, thế nào cũng có, nhưng nhờ vậy mới rõ ai là người đạo đức chắc chắn. (20) Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. (21) Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say. (22) Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh dể Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của? Tôi phải nói gì với anh em? Chẳng lẽ tôi khen anh em sao? Về điểm này, tôi chẳng khen đâu!
(23) Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, (24) dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy". (25) Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Ðây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy". (26) Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. (27) Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa.
(28) Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. (29) Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. (30) Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết. (31) Giả như chúng ta tự xét mình, thì chúng ta đã không bị xét xử. (32) Nhưng khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian.
(33) Cho nên, thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau. (34) Ai đói, thì ăn ở nhà, kẻo anh em đến họp mà hóa ra để bị kết án. Về các vấn đề khác, tôi sẽ lo liệu khi nào đến thăm anh em. 
 
CHIA SẺ
 Một số vấn đề được bàn đến trong chương này có thể có ý nghĩa ở một số địa phương nào đó, nhưng những nguyên lý thiêng liêng được áp dụng cho chúng ta trong bối cảnh hôm nay. Khi nói đến việc chia sẻ ở nơi thờ phượng có tính công cộng, chúng ta phải hỏi chính mình những câu hỏi nghiêm túc sau.
Liệu tôi có thiếu tôn trọng người có thẩm quyền (c.1-16)? Chúng ta phải cẩn thận không có bất kính với Thiên Chúa, cho dù những tiêu chuẩn văn hóa có như thế nào đi nữa. Thiên Chúa đã thiết lập trật tự trong tạo dựng cũng như trong Hội thánh, và chúng ta phải tôn trọng điều đó.
Liệu tôi có xem thường Hội thánh (c.17-22)? Chúng ta nên một trong Đức Ki-tô và trong tình yêu nên phải tôn trọng nhau. Qua cách thức họ đã ăn uống bữa ăn tình yêu, người giàu có đã xúc phạm đến người nghèo và điều đó đã đem đến xấu hổ cho Hội thánh.
Liệu tôi có nhận thức rõ về thân thể Hội Thánh (c.23-34)? Khi chúng ta gặp gỡ nhau để cử hành tiệc Thánh Thể, chúng ta phải xem xét chính mình thay vì xét nét người khác; và chúng ta phải thành thật với Thiên Chúa khi chúng ta xưng thú những tội lỗi của mình. Chúng ta nhận ra Mình Thánh Ngài trong tấm bánh, nhưng chúng ta cũng nhận ra sự hiện diện đó trong Hội thánh những người cùng chia sẻ bữa ăn với chúng ta. Bữa Tiệc Thánh Thể là bữa tiệc gia đình. Trong khi nó mang tính cá nhân, nó đừng nên trở thành quá riêng tư đến mức trở nên ích kỷ. Nó phải là phương thế để thúc đẩy sự hiệp nhất trong Hội thánh.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 10 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 Xét theo sự thận trọng. Bài học của quá khứ Ítraen
(1) Thưa anh em, tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về việc này: là tất cả cha ông chúng ta đều được ở dưới cột mây, tất cả đều vượt qua Biển Ðỏ. (2) Tất cả cùng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển, để theo ông Môsê. (3) Tất cả cùng ăn một thức ăn thiêng liêng, (4) tất cả cùng uống một thức uống linh thiêng, vì họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ. Tảng đá ấy chính là Ðức Kitô. (5) Nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc.
(6) Những sự việc ấy xảy ra để làm bài học, răn dạy chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như cha ông chúng ta. (7) Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ. theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa. (8) Ta đừng gian dâm, như một số trong nhóm họ đã gian dâm: nội một ngày, hai muơi ba ngàn người đã ngã gục. (9) Ta đừng thử thách Chúa, như một số trong nhóm họ đã thử thách Người và đã bị rắn cắn chết. (10) Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách: họ đã chết bởi tay Thần tru diệt. (11) Những sự việc này xảy ra cho họ để làm bài học, và đã được chép lại để răn dạy chúng ta, là những người đang sống trong thời sau hết này. (12) Bởi vậy, ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã. (13)Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Ðấng trung tín: Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng.
Tiệc cúng. Không thỏa hiệp với việc thờ ngẫu tượng.
(14) Vì thế, anh em thân mến, hãy xa lánh việc thờ ngẫu tượng. (15) Tôi nói với anh em như nói với những người khôn ngoan hiểu biết; anh em hãy tự mình suy xét điều tôi nói. (16) Khi ta nâng chén tạ ơn mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Ðức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải dự phần vào Thân Thể Người sao? (17) Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể. (18) Anh em hãy coi Ítraen xét theo huyết thống. Những ai ăn tế phẩm, há chẳng phải là những kẻ được chia lộc bàn thờ sao? (19) Thế nghĩa là gì? Thịt cúng là gì? Ngẫu tượng là gì? (20) Tuy nhiên, đồ cúng là "cúng cho ma quỷ, chứ không phải cho Thiên Chúa"; mà tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỷ. (21) Anh em không thể vừa uống chén của Chúa, vừa uống chén của ma quỷ được; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được. (22) Hay là "ta muốn làm cho Chúa phải ghen tương"? Chẳng lẽ ta mạnh sức hơn Người?
Vấn đề ăn thịt cúng. Cách giải quyết.
(23) "Ðược phép làm mọi sự"; nhưng không phải mọi sự đều có ích. "Ðược phép làm mọi sự"; nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng. (24) Ðừng ai tìm ích lợi cho riêng mình, nhưng hãy tìm ích lợi cho người khác. (25) Tất cả những gì bán ngoài chợ, anh em cứ việc ăn, không cần phải đặt vấn đề lương tâm, (26) bởi vì trái đất và muôn vật muôn loài trên trái đất đều là của Chúa.(27) Nếu có người ngoại nào mời anh em và anh em muốn đi, thì cứ ăn tất cả những gì người ta dọn cho anh em, không cần phải đặt vấn đề lương tâm. (28) Nhưng nếu có người bảo: "Ðây là của cúng", thì anh em đừng ăn, vì người ấy, kẻ đã báo trước cho anh em, và vì vấn đề lương tâm. (29) Tôi không có ý nói lương tâm của anh em, nhưng lương tâm của người khác, bời vì chẳng lẽ quyền tự do của tôi lại bị lương tâm kẻ khác xét xử? (30) Nếu tôi vừa tham dự, vừa tạ ơn Thiên Chúa, tại sao tôi lại bị khiển trách vì của ăn mà tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho?
Kết luận
(31) Vậy, dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. (32) Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Dothái hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; (33) cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ.
CHIA SẺ
 Nếu bạn nhất quyết dùng quyền của mình, bạn có thể gây cớ cho những người tín hữu còn non yếu bị vấp ngã; và bạn có thể cũng đem đến những rắc rối cho chính mình. Khi bạn đối diện với những quyết định khó khăn, hãy xem xét những yếu tố dưới đây.
Phúc lành của Thiên Chúa (c.1-5). Những phúc lành này cũng được ban cho dân Chúa trong ngày hôm nay. Chúng ta được cứu khỏi thế giới, được đồng hóa với Đức Giê-su Ki-tô, và được nuôi dưỡng bởi lương thực thần linh. Nhưng những phúc lành này không bảo đảm rằng chúng ta sẽ thành công. Bạn đón nhận những phúc lành của Thiên như những nén bạc được trao như thế nào? Phải chăng nó sinh lợi hay đang bị chôn dấu ở một nơi nào đó?
Sự xét xử của Thiên Chúa (c.6-12). Khi Ít-ra-en phạm tội, Thiên Chúa đã kỷ luật họ; và Ngài sẽ cũng làm như vậy cho dân Ngài hôm nay. Bạn có vấp phạm và được tha thứ trong đời sống cá nhân mình những tội đã được liệt kê? Thiên Chúa ban cho con cái Ngài sự tự do, nhưng không bao hàm trong đó sự tự do để phạm tội. Bạn hiểu như thế nào về việc sử dụng tự do của mình? Và đâu là cách bạn sử dụng sự tự của mình?
Lời hứa của Thiên Chúa (c.13-22). Thiên Chúa biết chúng ta có thể chịu đựng đến mức nào và luôn luôn ban cho những cách thức để giúp ta vượt qua. Trong nhiều trường hợp cách thức thông minh nhất là: “Tẩu vi thượng sách” (c.14;6:18). Luôn luôn tìm kiếm những cánh cửa mở và phúc lành ở bờ bên kia. Khi bạn trốn khỏi cơn cám dỗ, hãy chắc chắn bạn không lưu lại những địa chỉ này trong tư trang của mình. Theo bạn đâu là cách thức để tránh xa những cơn cám dỗ một cách tích cực?
Vinh quang của Thiên Chúa (c.23-33). Hai thái cực phải tránh: thực hành những điều được phép nhân danh sự tự do Ki-tô giáo, và trở nên quá cầu kỳ đến mức chúng ta không thể sống trong một thế giới thật và thực hiện những quyết định thuần lý. Khi bạn tìm cách để soi sáng cho những người khác và tôn vinh Thiên Chúa, bạn sẽ biết điều gì phải làm. Đâu là lựa chọn tiên thiên trong đời sống của bạn, điều đó có ảnh hưởng đến những quyết định lớn nhỏ trong đời sống hằng ngày của bạn? Và những quyết định của bạn ảnh hưởng đến người xung quanh như thế nào?

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

CHƯƠNG 9 - Thư 1 Gửi Tín Hữu Cô-rin-tô

 Gương của ông Phao-lô
(1) Tôi không tự do ư? Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Ðức Giêsu, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công trình của tôi trong Chúa sao? (2) Nếu đối với những người khác tôi không phải là tông đồ, thì ít ra đối với anh em tôi là tông đồ, vì ấn tín chứng thực chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa chính là anh em. (3) Ðây là lời biện hộ của tôi chống lại những kẻ hạch sách tôi. (4) Phải chăng tôi không có quyền ăn uống, (5) không có quyền đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kêpha? (6) Phải chăng chỉ có tôi và anh Banaba không có quyền được miễn lao động? (7) Có ai đi đánh giặc mà lại phải tự túc bao giờ? Có ai trồng nho mà lại không được ăn trái? Hay có ai chăn súc vật mà lại không được uống sữa của súc vật?
(8) Phải chăng tôi nói thế theo kiểu người phàm? Há Lề Luật lại cũng chẳng nói thế sao? (9) Thật vậy, trong luật Môsê có chép: Ðừng bịt mõm con bò đang đạp lúa. Chẳng lẽ Thiên Chúa lại bận tâm đến con bò sao? (10) Hay cũng vì chúng ta mà Người phán như vậy? Phải, chính vì chúng ta mà có lời chép: Khi cày, thợ cày phải mong được chia phần; và khi đạp lúa, kẻ đạp lúa phải mong được chia phần. (11) Một khi chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, nếu chúng tôi gặt của vật chất nơi anh em, thì đâu có phải là chuyện quá đáng? (12) Nếu những người khác còn có quyền đòi hỏi anh em, thì huống hồ là chúng tôi? Nhưng chúng tôi đã không dùng quyền đó. Trái lại, chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Ðức Kitô. (13) Anh em không biết rằng người lo các thánh vụ thì được hưởng lộc Ðền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ sao? (14) Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng.
(15) Nhưng phần tôi, tôi đã không dùng một quyền nào trong những quyền ấy. Tôi viết các điều này không phải để cũng được như vậy, vì đối với tôi thà chết còn hơn là... Niềm tự hào đó, không ai có thể hủy diệt được! (16) Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!(17) Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó. (18) Vậy đâu là phần thưởng của tôi? Ðó là khi rao giảng Tin Mừng tôi rao giảng không công, chẳng hưởng quyền lợi Tin Mừng dành cho tôi.
(19) Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. (20) Với người Dothái, tôi đã trở nên Dothái, để chinh phục người Dothái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. (21) Ðối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Ðức Kitô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. (22) Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. (23) Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.
(24) Anh em chẳng biết sao: trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. (25) Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. (26) Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đánh vào không khí. (27) Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại.
CHIA SẺ

Chúng ta không có quyền để từ bỏ sự tự do của mình, vì Đức Ki-tô đã trả giá điều đó cho chúng ta (Gl 5:1); nhưng chúng ta có quyền tự do để từ bỏ những quyền của mình. Vì để đưa những người lạc lối về (c.12), Phao-lô đã bỏ quyền được nhận sự hỗ trợ tài chính, và ngài đã xin những người tín hữu Corinto để từ bỏ quyền của họ vì phần rỗi của những người khác. Bạn đã dám hy sinh từ bỏ những gì vì lợi ích của những người khác? Bạn tham dự vào sứ vụ truyền giáo như thế nào trong hoàn cảnh riêng của bạn?
Sứ vụ của người Ki-tô hữu giống như trận chiến, chăm sóc vườn nho, chăm sóc đàn chiên, và canh tác cánh đồng (c.7-11). Suy ngắm những hình ảnh này, và xem điều họ dạy bạn về phục vụ Thiên Chúa.
Thừa tác vụ là một nhiệm vụ (c.17), và người tôi tớ phải trung thành (4:2). Những thừa tác viên của Đức Ki-tô cũng giống như những người chạy đua phải giữ những quy tắc hay sẽ bị loại trừ (c.24-27). Tính kỷ luật là một phần trong đời sống của người môn đệ, đâu là phương thế giúp bạn sống kỷ luật bản thân mình?
Những câu 19-23 kêu gọi sự nhã nhặn (c.17), và khôn ngoan trong việc làm chứng, không phải thỏa hiệp. “Tôi đã trở nên mọi sự cho mọi người” không có nghĩa là Phao-lô không có nét riêng của cá nhân mình. Điều đó có nghĩa là ngài đã dùng những lý chứng của mình để xây những nhịp cầu, không phải là những bức tường ngăn cách. Nếu xem ngài như không có sự nhất quán,  điều đó là do người ta không nhìn đủ sâu. Ao ước lớn nhất của ngài là cứu được những người lạc lối, và điều đó chi phối mọi quyết định của ngài. Đâu là cùng đích của đời bạn, và điều đó chi phối cuộc sống của bạn như thế nào?