Hiển thị các bài đăng có nhãn 50. Tin Mừng Gioan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 50. Tin Mừng Gioan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

CHƯƠNG 21 - Tin Mừng theo Thánh Gioan

 IV. Ðoạn Cuối 
Ðức Giêsu hiện ra ở bờ Biển Hồ Ti-bê-ri-a
(1) Sau đó, Ðức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. (2) Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Ðiđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. (3) Ông Simon nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây". Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh". Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.
(4) Khi trời đã sáng, Ðức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Ðức Giêsu. (5) Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không". (6) Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, anh em sẽ bắt được cá". Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. (7) Người môn đệ được Ðức Giêsu thương mến nói với Phêrô: "Chúa đó!" Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Simon Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. (8) Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.
(9) Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. (10) Ðức Giêsu bảo các ông: "Ðem ít cá mới bắt được tới đây!" (11) Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. (12) Ðức Giêsu nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "ông là ai?", vì các ông biết rằng đó là Chúa. (13) Ðức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. (14) Ðó là lần thứ ba Ðức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi chỗi dậy từ cõi chết.

 
(15) Khi các môn đệ ăn xong, Ðức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Ðức Giêsu nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy". (16) Người lại hỏi: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy". (17) Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?" Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy". Ðức Giêsu bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.
(18) Thật, Thầy bảo thật cho anh biết:
lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy,
và đi đâu tùy ý.
Nhưng khi đã về già,
anh sẽ phải giang tay ra
cho người khác thắt lưng
và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn".
(19) Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy".
(20) Ông Phêrô quay lại, thì thấy người môn đệ Ðức Giêsu thương mến đi theo sau; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Ðức Giêsu trong bữa ăn tối và hỏi: "Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy?" (21) Vậy khi thấy người đó, ông Phêrô nói với Ðức Giêsu: "Thưa Thầy, còn anh này thì sao?" (22) Ðức Giêsu đáp: "Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, hãy theo Thầy". (23) Do đó mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Ðức Giêsu đã không nói với Phêrô là: "Anh ấy sẽ không chết", mà chỉ nói: "Giả như Thây muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh?"
Kết luận
(24) Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.
(25) Còn có nhiều điều khác Ðức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra. 
CHIA SẺ


Đức Giêsu Như Người Lạ (c.1–4). Khi Phêrô quay về với cuộc sống cũ, ông đã mang sáu người khác theo mình. Công việc của họ hão huyền (15:5) bởi vì Chúa đã không ở với họ. Thật là nhân hậu khi Ngài trở lại với chúng ta khi chúng ta đã bất tuân Ngài và đã thất bại trong công việc của mình! Bạn từng có những kinh nghiệm quay lưng lại với Thiên Chúa và khi nhớ lại những kinh nghiệm này bạn có có những bài học nào cho bản thân?
Đức Giêsu Là Thầy Dạy (c.5–8). Khi Đức Giêsu đảm lấy trách nhiệm, thất bại trở nên thành công; và sự khác biệt chỉ là ở bên mạn khác của con thuyền! Bạn chẳng bao giờ biết được chiến thắng gần kề như thế nào, vì thế chấp nhận thất bại của mình và tuân theo điều mà Ngài nói với bạn làm. Ngài chẳng bao giờ thất bại. Chúng ta vẫn xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng khi bắt đầu công việc của mình, tuy nhiên bạn có thực sự để lòng mình lắng động để thực sự nghe được sự hướng dẫn của Ngài chăng? Việc lắng nghe Lời Chúa có giúp cho bạn nhận được những hướng dẫn cần thiết trong đời sống cá nhân mình?
Đức Giêsu là Chủ Tiệc (c.9–14). Cần tới sáu người để kéo lưới (c.8), nhưng Phêrô đã làm điều đó một mình khi Đức Giêsu ra lệnh (c. 11). Chúng ta phải nên luôn luôn nhớ “đến tính khả thi của lệnh truyền của Thiên Chúa.” Đống than hồng có nhắc nhở Phêrô về việc ông chối Chúa (18:18tt)? Phép lạ mẻ cá có nhắc cho Phêrô về lời mời gọi phục vụ (Lc 5:1-11)? Đức Giêsu thật là tốt lành khi Ngài mời Phêrô ăn trước khi bàn với ông về yếu đuối của ông! Trong bữa tiệc này, Đức Giê-su vẫn mời gọi chúng ta đóng góp trong bữa tiệc này. Đây là hình ảnh hiệp thông trong Giáo hội, ở đó có sự hiện diện của Đức Giê-su Phục Sinh và tình yêu của các thành viên. Bạn có thấy mình thuộc về cộng đoàn yêu thương này khi mình là một thành viên trong Giáo hội?
Đức Giêsu Là Mục Tử (c.15–17). Điều quan trọng nhất trong sứ vụ là yêu mến Đức Kitô, vì tất cả mọi sứ vụ đều phát xuất từ tình yêu này. Phêrô là ngư phủ và cũng là người mục tử và chăm sóc cho đàn chiên mẹ và chiên con. Những công việc bạn đang làm có phản ánh được mức độ tình yêu của bạn dành cho Thiên Chúa?
Đức Giêsu là Chúa (c.18–25). Khi nói rằng, “Hãy theo Ta,” Đức Giêsu muốn tuyên bố lại rằng Phêrô là một tông đồ. Nhưng Phêrô quay đi và né đi không nhìn Chúa (Mt 14:30), và Đức Giêsu phải quở ông. Trong lần kế tiếp nếu bạn bị cám dỗ xen vào trong sứ vụ của người khác, nhớ lại lời của Đức Kitô: “chuyện đó không liên quan tới anh? Hãy theo Ta!” (c.22). Bạn có cám dỗ nhìn công việc của người khác thay vì tập trung vào sứ vụ của mình và đó chính là nguồn gốc gây nên những bất an trong lòng mình?

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

CHƯƠNG 20 - Tin Mừng theo Thánh Gioan

3. Ngày Phục Sinh 
Ngôi mộ trống
(1) Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. (2) Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Ðức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?.
(3) Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. (4) Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. (5) Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. (6) Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, (7) và khăn che đầu Ðức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. (8) Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (9) Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải chổi dậy từ cõi chết. (10) Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.
Ðức Giêsu hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la
(11) Bà Maria đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, (12) thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Ðức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. (13) Thiên thần hỏi bà: "Này bà, sao bà khóc?" Bà thưa: "Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!" (14) Nói xong, bà quay lại và thấy Ðức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Ðức Giêsu. (15) Ðức Giêsu nói với bà: "Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?" Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: "Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về". (16) Ðức Giêsu gọi bà: "Maria!" Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: "Rápbuni!" (nghĩa là 'lạy Thầy'). (17) Ðức Giêsu bảo: "Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: 'Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em'". (18) Bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: "Tôi đã thấy Chúa", và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.
Ðức Giêsu hiện ra với các môn đệ
(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Dothái. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an!" (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông:
"Chúc anh em được bình an!
như Chúa Cha đã sai Thầy,
thì Thầy cũng sai anh em".
(22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo:
"Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.
(23) Anh em tha tội cho ai,
thì người ấy được tha;
anh em cầm giữ ai,
thì người ấy bị cầm giữ".
(24) Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. (25) các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nêu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin". (26) Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an" (27) Rồi Người bảo Tôma: "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". (28) Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (29) Ðức Giêsu bảo:
"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.
Phúc thay những người không thấy mà tin!" 

4. Kết Luận Thứ Nhất 
(30) Ðức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người. 
CHIA SẺ
 Bối rối (c.1–10). Maria đã mau mắn kết luận và ngay sau đó Phêrô và Gioan đã chạy đến. Họ bận rộn, nhưng họ chẳng có nói năng chi cả và kết quả được rất ít. Họ đã thấy bằng chứng về sự Phục sinh, nhưng điều đó chẳng có thay đổi cuộc sống của họ. Họ cần phải có một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô hằng sống. Chúng ta có thể thấy những cá tính và tâm tính khác nhau nơi những con người đi tìm kiếm dấu chỉ về Đức Giê-su: con người tình cảm của Ma-đa-lê-na, trực giác của Gioan và sự chậm chạp của Phê-rô. Với cá tính riêng của mình, bạn có cộng tác với cộng đoàn để giúp nhận ra sự hiện diện của Đấng Phục Sinh đang ở giữa chúng ta?
Tình yêu (c.11–18). Thái độ không tin làm cho mắt chúng ta bị mù trước sự hiện diện của Chúa. Khi Ngài nói Lời của Ngài cho chúng ta, đức tin và tình yêu đã được thắp sáng lại. Maria đã thay đổi từ một người khóc than thành một nhà truyền giáo khi bà đã gặp Chúa hằng sống. Tình yêu của bạn dành cho Thiên Chúa như thế nào? Tình yêu đó có thúc đẩy bạn trở  thành một người tông đồ loan báo sứ điệp tình yêu của Ngài dành cho bạn và cho thế giới?
Bình an (c.19–23). Đóng cửa không đem lại bình an cho bạn, cũng không nhốt ở ngoài Đấng Cứu Độ yêu mến của chúng ta. Ngài đã đến với sứ điệp bình an dựa trên hiến lễ của Ngài trên thập giá (c. 20; Rm. 5:1). Đức Giê-su Phục Sinh bắt đầu một cách thức hiện diện mới giữa các môn đệ của Ngài. Những cánh cửa nào bạn đang đóng lại với Thiên Chúa và với tha nhân vì sợ hãi hay vì những lý do khác?
Đức tin (c.24-31). Chúa đã giải quyết thái độ nghi ngờ và không tin của chúng ta một cách nhẹ nhàng. Ngày hôm nay, chúng ta không thể thấy Ngài hay sờ vào những thương tích của Ngài, nhưng chúng ta có Lời của Thiên Chúa để bảo đảm với chúng ta (c. 9, 30–31). Khi đức tin của bạn bị lung lay chao đảo, đừng có hỏi xin những dấu chỉ. Hãy mở Lời của Ngài ra và hãy để Ngài bảo đảm với bạn. Tô-ma đã đòi những dấu chỉ để tin. Không ít lần chắc chúng ta cũng đòi hỏi những dấu chỉ để có thể tin. Bạn đang tìm kiếm những dấu chỉ nào để có thể tin, và kinh nghiệm của bạn khi không gặp được những dấu chỉ đó, bạn đã phản ứng như thế nào? Tô-ma đã ở lại với cộng đoàn, phần bạn cộng đoàn có giúp gì để củng cố đức tin của bạn?

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

CHƯƠNG 19 - Tin Mừng theo Thánh Gioan

(1) Bấy giờ ông Philatô truyền đem Ðức Giêsu đi và đánh đòn Người. (2) Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. (3) Họ đến gần và nói: "Kính chào Vua dân Dothái!", rồi vả vào mặt Người.
(4) Ông Philatô lại ra ngoài và nói với người Dothái: "Ðây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy". (5) Vậy, Ðức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: "Ðây là người!" (6) Khi vừa thấy Ðức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: "Ðóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!" Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy". (7) Người Dothái đáp lại: "Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa".
(8) Nghe lời đó, ông Philatô càng sợ hơn nữa. (9) Ông lại trở vào dinh và nói với Ðức Giêsu: "Ông từ đâu mà đến?" Nhưng Ðức Giêsu không trả lời. (10) Ông Philatô mới nói với Người: "Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?" (11) Ðức Giêsu đáp lại: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn".
Ðức Giêsu bị kết án tử hình
(12) Từ đó, ông Philatô tìm cách tha Người. Nhưng dân Dothái kêu lên rằng: "Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xêda". (13) Khi nghe thấy thế, ông Philatô truyền dẫn Ðức Giêsu ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên tòa, ở nơi gọi là Nền Ðá, tiếng Hípri là Gápbatha. (14) Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Philatô nói với người Dothái: "Ðây là vua các người!" (15) Họ liền la lớn: "Ðem đi! Ðem nó đi! Ðóng đinh nó vào thập giá!" Ông Philatô nói với họ: "Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao?" Các thượng tế đáp: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xêda". (16) Bấy giờ ông Philatô trao Ðức Giêsu cho họ đóng đinh vào thập giá.
Ðức Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá
Vậy họ điệu Ðức Giêsu đi. (17) Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; (18) tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Ðức Giêsu thì ở giữa. (19) Ông Philatô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: "Giêsu Nadarét, Vua dân Dothái". (20) trong dân Dothái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Ðức Giêsu bị đóng đinh là một địa điểm ỏ gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng Hípri, Latinh và Hylạp. (21) Các thượng tế của người Dothái nói với Philatô: "Xin ngài đừng viết: "Vua dân Dothái" nhưng viết: "Tên này đã nói: Ta là Vua dân Dothái". (22) "Ông Philatô trả lời: "Ta viết sao, cứ để vậy!"

Lính tráng chia nhau áo xống của Ðức Giêsu
(23) Ðóng đinh Ðức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. (24) Vậy họ nói với nhau: "Ðừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được". Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh:
Áo xống tôi, chúng đem chia chác,
còn áo dài, cũng bắt thăm luôn.
Ðó là những điều lính tráng đã làm.
Ðức Giêsu và thân mẫu của Người
(25) Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. (26) Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Ðức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà". (27) Rồi Người nói với môn đệ: "Ðây là mẹ của anh". Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
Ðức Giêsu chết trên thập giá
(28) Sau đó, Ðức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói:
"Tôi khát!"
(29) Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. (30) Nhắp xong, Ðức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.
Ðức Giêsu bị lưỡi đòng đâm thâu
(31) Hôm đó là ngày áp lễ, người Dothái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sabát, mà ngày sabát đó lại là ngày lễ lớn. Nên họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. (32) Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Ðức Giêsu. (33) Khi đến gần Ðức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. (34) Nhưng một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. (35) Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. (36) Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh:
Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.
(37) Lại có lời Kinh Thánh khác:
Họ sẽ nhìn lên Ðấng họ đã đâm thâu.
Ðức Giêsu được mai táng
(38) Sau đó, ông Giôxép, người Arimathê, xin ông Philatô cho phép hạ thi hài Ðức Giêsu xuống. Ông Giôxép này là một môn đệ theo Ðức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Dothái. Ông Philatô chấp thuận. Vậy, ông Giôxép đến hạ thi hài Người xuống. (39) Ông Nicôđêmô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Ðức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. (40) Các ông lãnh thi hài Ðức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà cuốn, theo tục lệ chôn cất của người Dothái. (41) Nơi Ðức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. (42) Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Dothái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Ðức Giêsu ở đó. 
CHIA SẺ
 Vương miện (c.1–16). Đức Giêsu và Philatô đã nói chuyện về vương quốc, như thế điều chính xác là Vua phải có vương miện. Điều đó là một sự chế diễu, nhưng nó đã rao truyền một sứ điệp, vì Đức Giêsu đang mang vương miện chiến thắng tội lỗi của Adam (St 3:17–19). Nhưng vương niệm chỉ là một dấu chỉ của chiến thắng. Ngài đã chiến thắng rồi! Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân muốn tôn Ngài làm vua thì Ngài bỏ trốn. Bây giờ giữa lúc bị xét xử, Ngài lại được công bố là Vua. Vương quyền của Ngài thuộc loại nào? Vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ ở đâu trong chiến thắng của Đấng Mê-si-a?
Thập giá  (c.17–27). Đức Giêsu đã bắt đầu vác chính thập giá của Ngài, nhưng Simêon đã bị bắt để mang thập giá cho Ngài (Mc. 15:21). Chúng ta không được kể cho biết tại sao, dù truyền thống nói rằng Đức Giêsu đã ngã và không thể vác tiếp. Xem xét một cách tổng thể thì Ngài có thể chu toàn, điều này chẳng có gì khó tin cả. Tội phạm đã mang lấy thập giá như là một dấu chỉ của tội lỗi, và Đức Giêsu không phải là tội nhân! Gioan nhấn mạnh đến Thập Giá là nơi Đức Giê-su được nâng lên cao, được tôn vinh. Qua Thập Giá, vương quyền của Ngài được tỏa sáng. Đâu là những thập giá trong cuộc đời của bạn, và qua thập giá của mình có thực hiện chức năng tôn vinh Thiên Chúa?
Chiến thắng (c.28–42). “Mọi sự đã hoàn tất!” là một tiếng kêu về một cuộc chinh phục. Đức Giêsu đã hoàn tất toàn bộ nhưng gì của lễ trong giao ước cũ không thể thực hiện (Dt. 10:1-18). Nhưng lời ngôn sứ và các hình thức đã không thể hoàn tất và của lễ đền tội dâng một lần thay cho mãi mãi. Đây không phải là một vị tử đạo mà Giuse và Nicôđêmô đặt vào trong ngôi mộ; đó là người chiến thắng. Bạn hãy chiêm ngắm Đức Giê-su với tư cách là Ánh Sáng, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Ngài là ý nghĩa của con người trong kế hoạch của Thiên Chúa. Qua cái chết của mình, Ngài mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa ở giữa chúng ta và là con đường để chúng ta bước theo. Bạn có cảm nhận được Đức Giê-su kêu lên “Mọi sự đã hoàn tất” chính là Ngài đã trả xong món mà đáng lý ra bạn phải trả vì những tội lỗi của bạn?

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

CHƯƠNG 18 - Tin Mừng theo Thánh Gioan

2. Cuộc Thương Khó 
Ðức Giêsu bị bắt giữ
(1) Sau khi nói những lời đó, Ðức Giêsu đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kítrôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với môn đệ đi vào. (2) Giuđa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. (3) Vậy, Giuđa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. (4) Ðức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: "Các anh tìm ai?" (5) Họ đáp: "Tìm ông Giêsu Nadarét". Người nói: "Chính tôi đây". Giuđa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. (6) Khi Người vừa nói: "Chính tôi đây", thì họ lùi lại và ngã xuống đất. (7) Người lại hỏi một lần nữa: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm ông Giêsu Nadarét". (8) Ðức Giêsu nói: "Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi". (9) Thế là ứng nghiệm lời Ðức Giêsu đã nói:
"Những người Cha đã ban cho con,
con không để mất một ai".
(10) Ông Simon Phêrô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Mankhô. (11) Ðức Giêsu nói với ông Phêrô: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?"
Ðức Giêsu bị điệu ra trước các ông Khanna và Caipha
Ông Phêrô chối Thầy
(12) Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Dothái bắt Ðức Giêsu và trói Người lại. (13) Trước tiên, họ điệu Ðức Giêsu đến ông Khanna là nhạc phụ ông Caipha. Ông Caipha làm thượng tế năm đó. (14) Chính ông này đã đề nghị với người Dothái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.
(15) Ông Simon Phêrô và một môn đệ khác đi theo Ðức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Ðức Giêsu vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. (16) Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. (17) Người tớ gái giữ cổng nói với Phêrô: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?" Ông liền đáp: "Ðâu phải". (18) Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ. (19) Vị thượng tế tra hỏi Ðức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Người. (20) Ðức Giêsu trả lời: "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Ðền Thờ, nơi mọi người Dothái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. (21) Sao ông lại hỏi tôi? Ðiều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì". (22) Ðức Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?" (23) Ðức Giêsu đáp:
"Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chổ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?" (24) Ông Khanna cho giải Người đến thượng tế Caipha, Người vẫn bị trói.
(25) Còn ông Simon Phêrô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?" Ông liền chối: "Ðâu phải". (26) Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, lên tiếng hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao?" (27) Một lần nữa ông Phêrô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.

Ðức Giêsu bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô
(28) Vậy, người Dothái điệu Ðức Giêsu từ nhà ông Caipha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. (29) Vì thế, tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo người này về tội gì?" (30) Họ đáp: "Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan". (31) Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người". Người Dothái đáp: "Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả". (32) Thế là ứng nghiệm lời Ðức Giêsu đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
(33) Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Ðức Giêsu và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Dothái không?" (34) Ðức Giêsu đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?" (35) Ông Philatô trả lời: "Tôi là người Dothái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" (36) Ðức Giêsu trả lời:
"Nước tôi không thuộc về thế gian này.
Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này,
thuộc hạ của tôi đã chiến đấu
không để tôi bị nộp cho người Dothái.
Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này".
(37) Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Ðức Giêsu đáp:
"Chính ngài nói rằng tôi là vua.
Tôi đã sinh ra
và đã đến thế gian vì điều này:
đó là để làm chứng cho sự thật.
Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi".
(38) Ông Philatô nói với Người: "Sự thật là gì?"
Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Dothái và bảo họ: "Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. (39) Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha cho một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Dothái cho các người không?" (40) Họ lại la lên rằng: "Ðừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!" Mà Baraba là một tên cướp. 
CHIA SẺ
 Giuđa đã dựa vào sức mạnh của đám đông, Phêrô thì dựa vào sức mạnh cơ bắp, Anna và Caipha thì dựa vào quyền lực của địa vị, nhưng Đức Giêsu dựa và tình yêu và lòng nhiệt thành đối với Cha. Đức Giêsu đã có chén đắng trong tay của Ngài, không phải là gươm, nhưng là chén đắng đó chính là vương trượng của Ngài. Ngài hoàn toàn làm chủ tình thế.
Mặt khác, Phêrô đã chiến đấu khi ông nên khuất phục, và ông đi theo khi ông nên bỏ trốn. Khuất phục và bỏ trốn thoạt nhìn có vẻ giống như là thất bại, nhưng chúng là ý của Cha; và Phêrô phải nên tuân theo. Trong khi Đức Giêsu làm chứng tại nhà thượng tế, Phêrô đã chối Chúa. Chứng từ nào thành công, Phêrô hay là Đức Giêsu?
Trong tư cách là vị toàn quyền, Philatô đã lo lắng về sự đe dọa của một vương quốc khác. Câu 36 là một lời quở trách cho những người tin là những người theo gương của Phêrô. Vào lễ Hiện Xuống, Phêrô đã cầm lấy lưỡi gươm của Thần Khí và đã chiến thắng.
Khi bạn chiến đấu, bạn cậy dựa vào sức mạnh nào và bạn tuân theo vị chỉ huy nào?

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

CHƯƠNG 17 - Tin Mừng theo Thánh Gioan

 Lời cầu nguyện của Ðức Giêsu
(1) Nói thế xong, Ðức Giêsu ngước mắt lên trời và nói rằng:
"Lạy Cha, giờ đã đến!
Xin Cha tôn vinh Con Cha
để Con Cha tôn vinh Cha,
(2) Thật vậy, Cha đã ban cho Người
quyền trên mọi phàm nhân
là để Người ban sự sống đời đời
cho tất cả những ai
Cha đã ban cho Người.
(3) Mà sự sống đời đời
đó là họ nhận biết Cha,
Thiên Chúa duy nhất và chân thật,
và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến,
là Giêsu Kitô.
(4) Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất,
khi hoàn tất công trình
Cha đã giao cho con làm.
(5) Vậy lạy Cha,
giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha:
xin ban cho con vinh quang
mà con vẫn được hưởng bên Cha
trước khi có thế gian.
(6) Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian
mà ban cho con,
con đã cho họ biết danh Cha.
Họ thuộc về Cha,
Cha đã ban họ cho con,
và họ đã tuân giữ lời Cha.
(7) Giờ đây, họ biết rằng
tất cả những gì Cha ban cho con
đều do bởi Cha,
(8) vì con đã ban cho họ
lời mà Cha đã ban cho con;
họ đã nhận những lời ấy,
họ biết thật rằng
con đã từ Cha mà đến,
và họ đã tin là Cha đã sai con.
(9) Con cầu nguyện cho họ.
Con không cầu nguyện cho thế gian,
nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con,
bởi vì họ thuộc về Cha.
(10) Tất cả những gì của con đều là của Cha,
tất cả những gì của Cha đều là của con;
và con được tôn vinh nơi họ.
(11) Con không còn ở trong thế gian nữa,
nhưng họ, họ ở trong thế gian;
phần con, con đến cùng Cha.
Lạy Cha chí thánh,
xin gìn giữ các môn đệ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho con,
để họ nên một như chúng ta.
(12) Khi còn ở với họ,
con đã gìn giữ họ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho con.
Con đã canh giữ,
và không một ai trong họ phải hư mất,
trừ đứa con hư hỏng,
để ứng nghiệm lời Kinh Thánh.
(13) Bây giờ, con đến cùng Cha,
và con nói những điều này
lúc còn ở thế gian,
để họ được hưởng trọn vẹn
niềm vui của con.
(14) Con đã truyền lại cho họ lời của Cha,
và thế gian đã ghét họ,
vì họ không thuộc về thế gian,
cũng như con đây không thuộc về thế gian.
(15) Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian,
nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.
(16) Họ không thuộc về thế gian
cũng như con đây không thuộc về thế gian.
(17) Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ.
Lời Cha là sự thật.
(18) Như Cha đã sai con đến thế gian,
thì con cũng sai họ đến thế gian.
(19) Con xin thánh hiến chính mình con cho họ,
để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.

(20) Con không chỉ cầu nguyện cho những người này,
nhưng còn cho những ai
nhờ lời họ mà tin vào con,
(21) để tất cả nên một,
như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha
để họ cũng ở trong chúng ta.
Như vậy, thế gian sẽ tin rằng
Cha đã sai con.
(22) Phần con, con đã ban cho họ vinh quang
mà Cha đã ban cho con,
để họ được nên một
như chúng ta là một:
(23) Con ở trong họ và Cha ở trong con,
để họ được hoàn toàn nên một;
như vậy, thế gian sẽ nhận biết
là chính Cha đã sai con
và đã yêu thương họ
như đã yêu thương con.
(24) Lạy Cha,
con muốn rằng con ở đâu,
thì những người Cha đã ban cho con
cũng ở đó với con,
để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con,
vinh quang mà Cha đã ban cho con,
vì Cha đã yêu thương con
trước khi thế gian được tạo thành.
(25) Lạy Cha là Ðấng công chính,
thế gian đã không biết Cha,
nhưng con, con đã biết Cha,
và những người này đã biết
là chính Cha đã sai con.
(26) Con đã cho họ biết danh Cha,
và sẽ còn cho họ biết nữa,
để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ,
và con cũng ở trong họ nữa".

CHIA SẺ

Trong phần này, lời nguyện tư tế, Đức Giêsu đã cầu nguyện cho bản thân Ngài (c. 1–5), các môn đệ của Ngài (c. 6–19), và cho giáo hội(c. 20–26).
Lời cầu nguyện cho thấy ưu tiên mang tính thiêng liêng của Chúa: vinh quang của Cha (c.1), hiệp nhất của giáo hội (c. 21–23), thánh hóa giáo hội (c. 17), chiến thắng đối với thế gian còn bị lạc lối (c. 18–19). Đây có phải là những ưu tiên trong cuộc sống của bạn không?
Lời cầu nguyện cũng cho thấy những hồng ân mà Ngài đã tặng ban cho dân của Ngài: cuộc sống vĩnh hằng (c.2-3), Lời (c.8-14), và vinh quang của Ngài (c. 22). Nhưng lưu ý rằng những người tin, họ chính là quà tặng của Cha dành cho Ngài (c.2,6,9,11-12), giống như Đức Giêsu là quà tặng tình yêu của Cha cho chúng ta (3:16). Tất cả đều là hồng ân! Những ngày cuối năm này, bạn có thấy được thúc đẩy để dành thời gian nhìn lại những hồng ân Chúa ban cho bạn trong suốt năm qua và hãy dâng lời tạ ơn Ngài?
Từ thế gian xuất hiện mười chín lần trong lời cầu nguyện này, vì lời cầu nguyện này nói với chúng ta làm thế nào để “chiến thắng thế gian” (16:33). Chúng ta phải tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa trước (c.1-5), kinh nghiệm niềm vui của Ngài (c.13), được thánh hóa bởi Lời (c.17), tìm để dành lại những người bị lạc lối (c.18-19), và khuyến khích sự hiệp nhất trong dân của Thiên Chúa. (c.22-23). Đâu là nguồn sức mạnh giúp bạn có thể đứng vững trước những thử thách mà thế gian gây ra cho bạn?
Vinh quang là một từ quan trọng khác. Đức Kitô đặt vinh quang của Ngài một bên để đến trái đất này (c. 5b), Thiên Chúa được tôn vinh trên mặt đất (c.4), và đã được tôn vinh khi Ngài quay về trời (c. 5). Đức Kitô đã được tôn vinh trong Giáo hội của Ngài (c. 10) và đã chia sẻ vinh quang của Ngài với Giáo hội (c. 22-24). Chúng ta đã được tôn vinh rồi; chúng ta chỉ đang đợi điều đó được mặc khải một cách trọn vẹn (Rm. 8:18–21, 30). Con người luôn tìm kiếm những hình thức vinh quang khác nhau. Đâu là niềm vinh quang đích thực mà bạn đang tìm kiếm?