Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 105

Thánh Vịnh 105 (104):
Lịch sử kỳ diệu của Ít-ra-en
(1 Sb 16,8-22)

Ha-lê-luia. (1) Hãy tạ ơn CHÚA, cầu khẩn danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.

 (2) Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa,
và suy gẫm mọi kỳ công của Người.

 (3) Hãy tự hào vì danh thánh Chúa,
tâm hồn những ai tìm kiếm CHÚA, nào hoan hỷ.

 (4) Hãy tìm CHÚA và sức mạnh của Người,
chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.

 (5) Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,
những dấu lạ và những quyết định Người phán ra,

 (6) hỡi anh em, dòng dõi Áp-ra-ham tôi tớ Chúa,
con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn!

 (7) Chính ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng ta,
những điều Người quyết định
là luật chung cho cả địa cầu.

 (8) Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ!

 (9) Ðó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,
đã đoan thề cùng I-xa-ác,

 (10) và đặt thành quy luật cho Gia-cóp,
thành giao ước muôn đời cho Ít-ra-en,

 (11) rằng : "Ta sẽ cho ngươi đất Ca-na-an
làm kỷ phần gia nghiệp."

 (12) Thuở ấy họ chỉ là một số nhỏ,
một nhóm kiều dân nơi đất khách quê người,

 (13) lang thang hết xứ này qua xứ khác,
phiêu bạt từ nước nọ đến nước kia.

 (14) Nhưng Chúa vẫn không để cho ai ức hiếp họ;
vì thương họ, Người la rầy vua chúa:

 (15) "Ðừng đụng tới những kẻ Ta xức dầu tấn phong,
chớ làm hại các ngôn sứ của Ta."

 (16) Chúa cho nạn đói hoành hành khắp xứ,
làm cạn nguồn lương thực nuôi dân.

 (17) Chúa đã phái một người đi trước họ
là Giu-se, kẻ bị bán làm tôi.

 (18) Chân ông phải mang xiềng khổ sở,
cổ đeo gông nặng nề,

 (19) cho đến ngày ứng nghiệm điều ông tiên đoán
và ông được lời CHÚA giải oan.

 (20) Nhà vua, vị thủ lãnh các dân thời đó,
truyền tháo cởi gông xiềng và phóng thích ông,

 (21) rồi đặt ông làm tể tướng triều đình,
làm chủ mọi tài sản hoàng gia.

 (22) Vua cho ông toàn quyền chỉ đạo hàng khanh tướng,
dạy lẽ khôn ngoan cho bậc lão thành.

 (23) Bấy giờ Ít-ra-en trẩy sang Ai-cập,
và Gia-cóp kiều ngụ đất Kham.

 (24) Chúa cho dân Người tăng thêm gấp bội,
cho họ mạnh hơn cả đối phương.

 (25) Người khiến chúng thay lòng đổi dạ, mà đâm ra thù ghét,
dùng mưu mô chống lại các tôi tớ Người.

 (26) Chúa phái tôi tớ Người là Mô-sê,
phái A-ha-ron, kẻ Người tuyển chọn,

 (27) đến loan báo những điềm thiêng dấu lạ
trong toàn cõi đất Kham.

 (28) Chúa bủa màn đen, khắp nơi đen tối,
mà chúng vẫn cưỡng lại lời Người.

 (29) Chúa làm cho nước biến thành máu đỏ, giết sạch loài tôm cá.
 (30) Khắp vùng, ếch nhái bỗng tràn lan, nhảy cả vào cung cấm.
 (31) Chúa vừa phán, ruồi muỗi từng đàn
ào tới khắp nơi trên lãnh thổ.

 (32) Thay mưa mùa, Chúa đổ toàn mưa đá,
phóng lửa hồng thiêu hủy đất đai.

 (33) Người tàn phá đồi nho nương vả,
quật đổ cây cối trong khắp cả vùng.

 (34) Chúa lại phán, bỗng đâu xuất hiện
vô vàn vô số châu chấu cào cào;

 (35) chúng ăn sạch cỏ cây trong nước,
ăn hại hoa màu khắp mọi nơi.

 (36) Người giết mọi con đầu lòng bản xứ,
là tinh hoa của cả giống nòi.

 (37) Còn dân riêng của Người, Người đưa ra,
mang theo bạc với vàng;

 (38) Thấy họ ra đi, dân Ai-cập vui mừng,
vì họ đã làm cho chúng kinh hãi.

 (39) Chúa giăng mây làm màn che phủ họ
và cho lửa hồng soi sáng ban đêm.

 (40) Họ đòi ăn, Người cho chim cút đến,
và cho họ no nê bánh bởi trời.

 (41) Người xẻ đá, nước liền vọt ra
chảy thành sông giữa vùng sa mạc.

 (42) Ấy là vì Chúa nhớ lại lời thiêng đã hứa
cùng Áp-ra-ham, tôi tớ của Người.

 (43) Chúa đưa dân Người, những kẻ Người đã chọn,
vui vẻ ra đi giữa tiếng reo hò.

 (44) Ðất ngoại bang, Người trao tặng họ,
cho thừa hưởng công khó của chư dân,

 (45) ngõ hầu họ vâng theo thánh chỉ, và tuân giữ luật Người.
 
CHIA SẺ

Thánh vịnh 105 ca ngợi sự thành tín của Thiên Chúa trong tư cách là Đấng Cứu Chuộc.
(Xin xem lại Chia sẻ của Thánh Vịnh 104)

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 104

Thánh Vịnh 104 (103):
Ca tụng Ðấng Tạo Hoá

(1) Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!
Lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả!
Áo Ngài mặc : toàn oai phong lẫm liệt,
 (2) cẩm bào Ngài khoác : muôn vạn ánh hào quang.
Tầng trời thẳm, Chúa căng như màn trướng,

 (3) điện cao vời, dựng trên khối nước cõi thanh không.
Chúa ngự giá xe mây, Ngài lướt bay cánh gió.

 (4) Sứ giả Ngài : làn gió bốn phương,
nô bộc Chúa : lửa hồng muôn ngọn.

 (5) Chúa lập địa cầu trên nền vững,
khôn chuyển lay muôn thuở muôn đời!

 (6) Áo vực thẳm choàng lên trái đất,
khối nước nguồn tụ lại đỉnh non cao.

 (7) Nghe tiếng Ngài dọa nạt, chúng đồng loạt chạy dài;
sấm Ngài mới rền vang, chúng kinh hoàng trốn thoát,

 (8) băng qua núi qua đồi, chảy xuôi ra đồng nội
về nơi Chúa đặt cho.

 (9) Ngài vạch đường ranh giới ngăn cản chúng vượt qua,
không còn cho trở lại dâng lên ngập địa cầu.

 (10) Chúa khơi nguồn : suối tuôn thác đổ,
giữa núi đồi, lượn khúc quanh co,

 (11) đem nước uống cho loài dã thú,
bầy ngựa hoang đang khát nước được thoả thuê.

 (12) Bên dòng suối, chim trời làm tổ,
dưới lá cành cất giọng líu lo.

 (13) Từ cao thẳm, Chúa đổ mưa xuống núi,
đất chứa chan phước lộc của Ngài.

 (14) Ngài khiến mọc cỏ xanh nuôi sống đàn gia súc,
làm tốt tươi thảo mộc cho người thế hưởng dùng.
Từ ruộng đất, họ kiếm ra cơm bánh,

 (15) chế rượu ngon cho phấn khởi lòng người,
xức dầu thơm cho gương mặt sáng tươi,
nhờ cơm bánh mà no lòng chắc dạ.

 (16) Hương bá Li-băng, những cây CHÚA đã trồng,
được tràn trề nhựa sống.

 (17) Bầy chim tước rủ nhau làm ổ,
hạc bay về xây tổ ngọn cao.

 (18) Núi chon von, loài sơn dương tìm đến,
hốc đá sâu, giống ngân thử ẩn mình.

 (19) Chúa đặt vầng trăng để đo thời tiết,
dạy mặt trời biết lặn đúng thời gian.

 (20) Ðêm trở lại khi Chúa buông màn tối,
chốn rừng sâu, muông thú tung hoành.

 (21) Tiếng sư tử gầm lên vang dội,
chúng săn mồi, gào xin Chúa cho ăn.

 (22) Ánh dương lên, chúng bảo nhau về,
tìm hang hốc, chui vào nằm nghỉ.

 (23) Ðến lượt con người ra đi làm lụng,
những mải mê tới lúc chiều tà.

 (24) Công trình Ngài, lạy CHÚA, quả thiên hình vạn trạng!
Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,
những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.

 (25) Này đại dương bát ngát mênh mông,
nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng,

 (26) nơi tàu bè cỡi sóng và thủy quái tung tăng,
là vật Chúa tạo thành để làm trò tiêu khiển.

 (27) Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa
đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn.

 (28) Ngài ban xuống, chúng lượm về,
Ngài mở tay, chúng thoả thuê ơn phước.

 (29) Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi;
lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi.

 (30) Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới,
là chúng được dựng nên,
và Ngài đổi mới mặt đất này.

 (31) Vinh hiển CHÚA, nguyện muôn năm tồn tại,
công trình CHÚA làm Chúa được hân hoan.

(32) Chúa nhìn đất thấp, đất sợ run lẩy bẩy,
Người chạm núi cao, núi toả khói mịt mù.

 (33) Suốt cuộc đời, tôi sẽ ca mừng CHÚA,
sống ngày nào, xin đàn hát kính Thiên Chúa của tôi.

 (34) Nguyện tiếng lòng tôi làm cho Người vui thoả,
đối với tôi, niềm vui là chính CHÚA.

 (35) Ước gì tội nhân phải biệt tích cõi đời,
bọn bất lương sạch bóng chẳng còn ai.
Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!

CHIA SẺ

Thánh vịnh 104 ca ngợi Thiên Chúa vì sự viên mãn trong tư cách là Đấng Tạo Hóa, Thánh vịnh 105 ca ngợi sự thành tín của Ngài trong tư cách là Đấng Cứu Chuộc, và Thánh vịnh 106 ca ngợi sự tha thứ của Ngài trong cương vị là Đấng Độ dân Ngài. Thật là dễ dàng để đón nhận cách nhưng không thế giới mà Thiên Chúa đã tạo dựng! Chúng ta dễ dàng nhìn thấy những khiếm khuyết nhưng không nhìn thấy những phúc lành, và chúng ta quên thế giới theo thực đúng theo như bản chất của thế giới mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đâu là những ý tưởng mà bạn có được từ Thánh vịnh liên quan đến việc tạo dựng ?
Đó là một nơi vĩ đại (c.1-9), không phải lớn lao theo nghĩa của con người, nhưng vĩ đại theo nghĩa Thiên Chúa. Tác giả thánh vịnh đã so sánh tạo dựng với xây dựng một ngôi nhà: đặt nền móng, đặt xà rầm, treo những tấm màn, và chăm sóc hệ thống nước. Chỉ một mình Thiên Chúa khôn ngoan và vĩ đại mới có thể dựng nên một thế giới như vậy.
Đó là một nơi tốt đẹp (c.10-30). Ngài ban cho sự sống, nước, thực phẩm và nơi ở cho con người, cho súc vật và chim trời, và Ngài chăm sóc chúng. Mọi sự trong tạo dựng là quà tặng của Thiên Chúa cho chúng ta vui hưởng (1Tm 6:17).
Đó là một nơi hân hoan (c.31-35). Thiên Chúa vui mừng với thụ tạo (c.31), và chúng ta nên “vui mừng trong Chúa” (c.34). Thụ tạo là cánh cửa qua đó chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa, không phải là một tấm gương ở đó chúng ta nhìn thấy chính mình; và khi chúng ta càng nhìn thấy Ngài, chúng ta càng thêm hạnh phúc. Chỉ có như thế chúng ta mới làm cho mình thành người phục vụ tốt của công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
Bạn có hoàn thành vai trò đã được chỉ định cho bạn trong trật tự tạo dựng của Thiên Chúa ?

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 103

Thánh Vịnh 103 (102):
ÐỨC CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu

(1) Của vua Ða-vít.
 
  Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,
toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh!
 (2) Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,
chớ khá quên mọi ân huệ của Người.

 (3) CHÚA tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,
thương chữa lành các bệnh tật ngươi.

 (4) Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt,
bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà,

 (5) ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc,
khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.

 (6) CHÚA phân xử công minh,
bênh quyền lợi những ai bị áp bức,

 (7) mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người,
cho con cái nhà Ít-ra-en
thấy những kỳ công Người thực hiện.

 (8) CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương,

 (9) chẳng trách cứ luôn luôn,
không oán hờn mãi mãi.

 (10) Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm.

 (11) Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất,
tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.

 (12) Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm,
tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.

 (13) Như người cha chạnh lòng thương con cái,
CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.

 (14) Người quá biết ta được nhồi nắn bằng gì,
hẳn Người nhớ : ta chỉ là cát bụi.

 (15) Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

 (16) một cơn gió thoảng là xong,
chốn xưa mình ở cũng không biết mình.

 (17) Nhưng ân tình CHÚA thiên thu vạn đại,
dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn.
Người xử công minh cả với đời con cháu,

 (18) cả những ai giữ giao ước của Người
và nhớ tuân hành mệnh lệnh Người ban.

 (19) CHÚA đặt ngai báu trên trời cao thẳm,
quyền đế vương bá chủ muôn loài.

 (20) Chúc tụng CHÚA đi, hỡi muôn vì thiên sứ,
bậc anh hùng dũng mạnh thực hiện lời Người,
luôn sẵn sàng phụng lệnh.

 (21) Chúc tụng CHÚA đi, toàn thể thiên binh,
hằng hầu cận và tuân hành thánh ý.

 (22) Chúc tụng CHÚA đi, muôn vật Chúa tạo thành,
thuộc quyền Người thống trị khắp nơi nơi.
Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!

CHIA SẺ

Đa-vít không có đưa ra những đòi hỏi gì trong Thánh vịnh này. Tất cả những gì ông làm đó là ca ngợi Thiên Chúa vì ba phúc lành tuyệt vời mà ông gọi tên trong những câu 4-5 và sau đó thì giải thích trong phần còn lại của Thánh vịnh.
Sự tha thứ (c.4,11-15). Tha thứ giống như chữa lành khi bạn bị ốm (1Pr 2:24), được giải thoát khi bạn mang một gánh nặng (c.12-13; Lv 16:20-22; Ga 1:29), và hòa giải khi bạn làm ai tổn thương (c.14-15). Tất cả những điều này xảy ra bởi vì Đức Giê-su đã chết trên Thập giá vì tội lỗi của bạn và bạn hãy tín thác nơi Ngài. Lòng kính trọng và tôn kính Thiên Chúa có làm cho bạn sống với một cung cách khác đi không ?
Cứu chuộc (c.5,7,10). Thiên Chúa đã cứu đất nước khỏi nô lệ và khỏi những khó khắn họ đối diện trong hành trình đến đất hứa ở Ca-na-an. Ngài đã giải thoát chúng ta, như thế Ngài có thể là Chủ của chúng ta và chăm sóc cho chúng ta mãi mãi. Khi Ngài cai trị chúng ta, Ngài biến chúng ta những kẻ nô lệ thành những vị vua (Rm 5:17). Thật là một ân sủng đặc biệt! Cứu chuộc có nghĩa là giành lại được qua việc phải trả một giá nào đó để mua lại. Thiên Chúa đã trả giá để cứu chuộc chúng ta, Thiên Chúa đã ban thưởng cho chúng ta với tình yêu và lòng thương xót. Ngài đã ban cho chúng ta sự tôn vinh đích thật và lớn lao. Và đâu là những phúc lành lớn hơn thế nữa để được bước vào trong tình yêu và sự ưu ái của Thiên Chúa ?
Thỏa mãn (c.6,16-18). Con người có tính mỏng dòn và tạm bợ, nhưng những người tín hữu vui hưởng “tuổi xuân bất tận” và sự canh tân tinh thần. Đa-vít đã so sánh điều này với chim ó nhìn rất già nhưng vẫn bay vút lên cao với sức mạnh mới (Is 40:31). Làm thế nào để bạn có thể liệt kê ra danh sách những ân sủng của Thiên Chúa ban cho bạn và qua đó cải thiện cách thức bạn đáp trả và tương quan với những người khác ?
Bạn thuộc về vị Vua cai trị toàn thể muôn loài (c.19)! Các thiên thần ca ngợi Ngài (c.20-22), vì thế tại sao bạn không hợp với các thiên thần thờ phượng Thiên Chúa ?

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 102

Thánh Vịnh 102 (101):
Lời than van rên siết trong cảnh gian truân

(1) Lời cầu của kẻ gặp khốn khó.
Trong cơn cùng khốn, người này dâng lời than vãn trước ÐỨC CHÚA.
 
(2) Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn,
tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài.
 
(3) Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt,
trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe
và mau mau đáp lời.

(4) Vì đời con : tháng ngày tan thành khói,
xương tuỷ nóng ran như hoả lò.

(5) Tim héo hắt tựa hồ cỏ giập,
nên chẳng còn tưởng đến miếng ăn.

(6) Vì con những kêu gào rên rẩm
mà thân thể chỉ còn da bọc xương.

(7) Con chẳng khác bồ nông miền sa mạc,
tựa như cú vọ chốn hoang tàn.

(8) Suốt năm canh trằn trọc,
phận như chim lạc đàn đậu mái hiên.

(9) Quân thù địch cả ngày phỉ báng,
giận điên lên, chúng nguyền rủa thân này.

(10) Ăn tro trấu đã thành cơm bữa,
nước mắt hoà nước uống thường khi.

(11) Vì Chúa nổi trận lôi đình, ra oai nộ khí,
nhấc con lên, rồi quẳng ra xa.

(12) Ngày tháng đời con : chiều tà bóng ngả,
tấm thân này : cỏ úa vàng khô.

(13) Nhưng lạy CHÚA, muôn đời Ngài ngự trị,
trải bao thế hệ, thiên hạ nhắc đến Ngài.

(14) Chính Ngài sẽ đứng dậy và thương xót Xi-on,
vì nay đã đến thời thi ân giáng phúc.

(15) Bề tôi Ngài lưu luyến đá tường thành sụp đổ,
lòng những xót xa nhìn đống tro tàn.

(16) Bấy giờ chư dân sẽ sợ uy danh CHÚA,
mọi đế vương hoàn cầu uý kính Ngài vinh hiển.

(17) Vì CHÚA sẽ xây dựng lại Xi-on,
sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ.

(18) Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu,
chẳng khinh thường lời họ nguyện xin.

(19) Ðiều này phải ghi lại cho đời sau được biết,
dân hậu sinh phải ca tụng CHÚA TRỜI.

(20) Vì CHÚA đưa mắt từ toà cao thánh điện,
từ trời xanh đã nhìn xuống cõi trần,

(21) để nghe kẻ tù đày rên xiết thở than
và phóng thích những người mang án tử.

(22) Rồi ra, ở Xi-on, người người sẽ rao truyền danh thánh CHÚA,
tại Giê-ru-sa-lem, ai nấy ngợi khen Người,

(23) khi mọi nước mọi dân
tập trung về để thờ phượng CHÚA.

(24)Chúa làm tôi kiệt lực giữa đường đời,
tuổi thọ tôi, Người rút ngắn lại.

(25) Con nói : lạy Thiên Chúa của con,
Ngài là Ðấng vạn đại trường tồn,
Xin đừng cất mạng con giữa cuộc đời dang dở.

(26) Xưa Chúa đã đặt nền trái đất,
chính tay Ngài tạo tác vòm trời.

(27) Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài,
chúng như áo cũ thảy rồi mòn hao.
Ngài thay chúng khác nào thay áo,

(28) nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên;
tháng năm Ngài vẫn triền miên.

(29) Con cháu bề tôi sẽ an cư lạc nghiệp,
và dòng giống tồn tại trước nhan Ngài.

CHIA SẺ

Thiên Chúa là Đấng trường tồn, nhưng chúng ta kiệt lực giữa đường đời (c.24-25), những ngày gian truân (c.3), những ngày mà biến mất tựa làn khói, như ngọn cỏ, và như chiều tà ngã bóng (c.4,5,12). Chúng ta ngồi cô đơn giống như những con chim trong sa mạc và những người bệnh nhân chờ chết trong bệnh viện (c.6-10). Thật là khủng hoảng !
Có bao giờ bạn trải qua những ngày như trên chưa ? Nếu bạn có, hãy tỉnh thức. Hãy nhìn chính bản thân mình và những cảm xúc của bạn, điều đó sẽ chỉ làm cho mọi sự tồi tệ hơn. Hãy làm những gì mà tác giả của Thánh vịnh sám hối đã làm: hãy nhìn Thiên Chúa bằng niềm tin. Mọi sự sẽ trở nên khác biệt khi bạn nhìn Thiên Chúa từ chính bản thân mình và nói, “Nhưng lạy Chúa.”
“Nhưng lạy Chúa, Ngài sẽ chịu đựng”  (c.13-23). Nếu bạn Đức Giê-su bằng niềm tin, bạn sẽ có sự sống đời đời (1Ga 5:11-13). Vì thế, sống trong một thế giới chết chóc và suy tàn, điều đó không là mối đe dọa bạn, bởi vì bạn sẽ sống mãi với Thiên Chúa (1Tex 4:13-18).
“Nhưng lạy Chúa, Ngài là Đấng bất biến” (c.26-29). Khi bạn già hơn, bạn có thể thấy bản thân mình khươc từ sự thay đổi. Những người thân yêu lần lượt rời bỏ bạn hay qua đời, thân thể bạn yếu đi, thế giới thay đổi, và dễ dàng bạn thấy mình dễ tổn thương và sợ hãi. Nhưng Thiên Chúa là Đấng không thay đổi (Dt 13:5-8), và Ngài là Bạn và là Người Hướng Dẫn của bạn cho đến tận cùng (Tv 73:24).
Cuộc sống chóng qua như vậy, điều gì làm cho cuộc sống của bạn có ý nghĩa và lâu bền ? Bạn có thể nhớ lại những thời điểm khủng hoảng mà Thiên Chúa đã cứu bạn thoát khỏi? Chiêm ngắm hình ảnh ba con chim trong câu 7-8, trong những lúc cô đơn như thế hãy nhớ đến hình ảnh của “hai con chim sẻ” (Mt 10:29). Đâu là những hình ảnh khác trong Kinh thánh cho thấy sự thinh lặng của Thiên Chúa? Những lúc như vậy có làm cho bạn đánh mất đi sự can đảm hay làm gia tăng niềm tin của mình nơi Ngài ?

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 101

Thánh Vịnh 101 (100):
Chân dung của nhà vua lý tưởng

(1) Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.
 
  Lạy CHÚA, con xin ca ngợi tình thương và công lý:
con đàn hát kính Ngài.
 
(2) Con nguyện chủ tâm theo đường hoàn hảo,
bao giờ Ngài mới đến cùng con?
Con sẽ sống theo lòng thuần khiết
ở trong cửa trong nhà.

 (3) Việc xấu xa đê tiện, con chẳng để mắt trông.
Con ghét kẻ làm điều tà vạy,
không để cho dính dáng đến mình.

 (4) Tâm địa gian manh con hằng xa lánh,
chẳng muốn biết gì đến chuyện xấu xa.

 (5) Ai nói chùng nói lén, là con sẽ diệt trừ.
Con mắt khinh người, lòng dạ kiêu căng:
những bọn đó, không khi nào con chịu.

 (6) Con để mắt kiếm người hiền trong xứ, cho họ được ở gần.
Ai sống đời hoàn hảo, sẽ là người được phục vụ con.

 (7) Nhà con ở không hề chứa chấp
kẻ quen trò bịp bợm thói lưu manh.
Hạng nói dối chuyên nghề, con đuổi cho khuất mắt.

 (8) Mỗi buổi mai con lại diệt trừ
cho hết phường ác nhân trong xứ sở,
hầu quét sạch khỏi thành đô CHÚA
bọn làm điều ác, chẳng sót một tên.

CHIA SẺ

Sự quyết tâm và dâng hiến đặc trưng hóa cho Thánh vịnh này như Đa-vít nói “tôi sẽ” tổng cộng mười lăm lần. Ông đã muốn có một con tim hoàn hảo (một tấm lòng thuần khiết) (c.2), không phải là một con tim gian manh (c.4) hay một con tim kiêu căng (c.5). Để trở nên hoàn hảo trước Thiên chúa không có nghĩa là không phạm tội; mà lại có nghĩa là thành thật và không giả vờ. Thánh Gioan gọi điều này là “bước đi trong ánh sáng” (1Ga 1:5-10). Làm thế nào chúng ta có thể sống một cuộc sống không có những tì vết và không làm những điều xấu ? Liệu có thể có một tấm lòng hoàn hảo được chăng ?
Đa-vít đã muốn công bằng trong xứ sở và trong thành đô (c.8), giống như điều chúng ta làm trong thời đại hôm nay. Nhưng nền văn minh của sự công chính phải bắt đầu trong tâm  hồn và trong gia đình (c.2,7). Vâng, chúng ta cần những con người thành thật thi hành luật của sự công chính, nhưng chúng ta cũng cần những con người thiêng liêng sống đời sống thánh thiện, khởi sự ngay tại gia đình. Chúng ta được dạy sống xa lánh những người xấu. Với cách sống xa lánh như thế, liệu chúng ta có thể có những ảnh hưởng trong việc chia sẻ Tin Mừng cho những người cần đến sứ điệp này nhất ?
Chúng ta phải cẩn thận với những gì chúng ta nhìn (c.3) và lắng nghe (c.5), và với những người bạn hữu (c.6-7). Trong một thế giới đầy những điểu ảo tưởng, chúng ta phải tránh sự dối trá và phải bước đi trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa (c.7,2). Không giống như Đa-vít, chúng ta không có quyền lực để làm những phân xử pháp lý đối với những kẻ xấu. Nhưng nếu lòng và nhà của chúng trở nên như lòng Chúa ước mong, ảnh hưởng của  chúng ta sẽ được nhận ra trong thành đô cũng như trong xứ sở. Chúa Giê-su sống giữa những người tội lỗi. Cách thức Chúa Giê-su tương quan với những người tội lỗi so sánh với những lời khuyên trong Thánh Vịnh này như thế nào ?