Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

CHƯƠNG 04 - SỬ BIÊN NIÊN 1

4. Các Chi Tộc Miền Nam
Ngành ông Giu-đa. Ông Sô-van.
1 Các con ông Giu-đa là: Pe-rét, Khét-rôn, Các-mi, Khua, Sô-van.
2 Rơ-a-gia, con Sô-van, sinh Gia-khát; Gia-khát sinh A-khu-mai và La-hát. Ðó là các thị tộc người Xo-rơ-a.
 Ngành ông Khua
3 Ðây là các con của ông Khua: người cha của Ê-tham, rồi đến Gít-rơ-en, Gít-ma, Gít-bát. Em gái các ông tên là Hát-len-pô-ni.
4 Pơ-nu-ên là cha của Gơ-đo. Ê-de là cha của Khu-sa.
Ðó là các con ông Khua, con đầu lòng của ông Ép-ra-tha, cha của ông Bê-lem.
 Ngành ông Át-khua
5 Ông Át-khua, cha của Tơ-cô-a, có hai bà vợ là Khen-a và Na-a-ra.
6 Bà Na-a-ra sinh ra cho ông: A-khút-dam, Khê-phe, các người Têm-ni và người A-khát-ta-ri. Ðó là con cháu bà Na-a-ra.
7 Các con của bà Khen-a là: Xe-rét, Giơ-xô-kha, Ét-nan.
8 Ông Cốt sinh A-núp, Hát-xô-vê-va và các thị tộc A-khác-khên, con Ha-rum. 9 Ông Gia-bết vẻ vang hơn các anh em mình. Mẹ ông đặt tên cho ông là Gia-bết; bà nói: "Tôi đã sinh ra nó trong cơn khốn khổ." 10 Ông Gia-bết kêu cầu Thiên Chúa Ít-ra-en rằng: "Nếu thật Ngài giáng phúc cho con, thì xin nới rộng bờ cõi của con và xin tay Ngài phù trợ con, làm cho sự dữ lìa xa và cho con thoát cơn khốn khổ." Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin.
 Ngành ông Cơ-lúp
11 Ông Cơ-lúp, anh em của Su-kha, sinh Mơ-khia là cha của Ét-tôn. 12 Ét-tôn sinh Bết Ra-pha, Pa-xê-ác, Tơ-khin-na, cha của Ia Na-khát. Ðó là những người thành Rê-kháp.
13 Các con ông Cơ-nát là: Ót-ni-ên và Xơ-ra-gia. Các con ông Ót-ni-ên là Kha-thát và Mơ-ô-nô-thai. 14 Mơ-ô-nô-thai sinh Óp-ra; Xơ-ra-gia sinh Giô-áp cha của Ghê Kha-ra-sim, vì họ là những người thợ thủ công.
15 Các con của ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, là: I-ru, Ê-la, Na-am. Con của Ê-la là Cơ-nát. 16 Các con của ông Giơ-ha-len-ên là Díp, Di-pha, Tia-gia, A-xác-ên.
17a Các con của ông Ét-ra là Gie-the, Me-rét, E-phe, Gia-lôn. 18b Ðây là các con bà Bít-gia, công chúa của Pha-ra-ô mà ông Me-rét đã cưới làm vợ; 17b và bà mang thai Mi-ri-am, Sam-mai, Gít-bác, cha của Ét-tơ-mô-a. 18a Vợ ông, một người Giu-đa, đã sinh ra Gie-rét, cha của Gơ-đo, rồi sinh Khe-ve, cha của Xô-khô, Giơ-cô-thi-ên, cha của Da-nô-ác.
19 Các con bà vợ ông Hô-đi-gia, chị em với ông Na-kham là: cha của các ông Cơ-i-la, người Gác-mi và Ét-tơ-mô-a, người Ma-a-kha.
20 Các con ông Si-môn là: Am-nôn, Rin-na, Ben Kha-nan, Ti-lôn.
Các con ông Gít-i là Dô-khết và Ben Dô-khết.
 Ngành ông Sê-la
21 Các con ông Sê-la, con ông Giu-đa, là: E, cha của Lê-kha, La-đa, cha của Ma-rê-sa và các thị tộc những người dệt gấm tại Bết Át-bê-a; 22 Giô-kim, các người Cô-dê-va, Giô-át và Xa-ráp, những người đã làm chủ Mô-áp, rồi lại trở về Bê-lem. Ðó là (chuyện xưa). 23 Những người này là thợ gốm, họ cư ngụ tại Nơ-ta-im và Gơ-đê-ra; họ ở đấy với đức vua để phục vụ ông.
 Ngành ông Si-mê-ôn
24 Các con ông Si-mê-ôn là: Nơ-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, De-rác, Sa-un, 25 Sa-lum con ông, Míp-xam con ông, Mít-ma con ông. 26 Các con ông Mít-ma là: Kham-mu-ên con ông, Dắc-cua con ông, Sim-y con ông. 27 Ông Sim-y được mười sáu người con trai và sáu người con gái, còn anh em ông thì không có nhiều con cái, và các thị tộc của họ không phát triển được như con cái Giu-đa.
28 Họ cư ngụ tại Bơ-e Se-va, Mô-la-đa và Kha-xa Su-an, 29 tại Bin-ha, tại E-xem và tại Tô-lát, 30 tại Bơ-thu-ên, tại Khoóc-ma, tại Xích-lắc, 31 tại Bết Mác-ca-vốt, tại Kha-xa Xu-xim, tại Bết Bia-i và tại Sa-a-ra-gim. Ðấy là các thành của họ cho tới khi vua Ða-vít lên ngôi. 32 Còn các thôn làng của họ thì có năm là: Ê-tham, A-gin, Rim-môn, Tô-khen, A-san; 33 và tất cả các thôn làng nằm chung quanh các thành ấy cho cho tới Ba-an. Ðó là những nơi họ cư trú và được đăng bộ. 34 Mơ-sô-váp, Giam-lếch, Giô-sa, con của A-mát-gia, 35 Giô-en, Giê-hu, con của Giô-síp-gia, con của Xơ-ra-gia, con của A-xi-ên, 36 En-giô-ê-nai, Gia-a-cô-va, Giơ-sô-kha-gia, A-xa-gia, A-đi-ên, Giơ-xi-mi-ên, Bơ-na-gia, 37 Di-da, Ben Síp-y, Ben A-lôn, Ben Giơ-đa-gia, Ben Sim-ri, Ben Sơ-ma-gia. 38 Những người ấy được ghi đích danh, đều là những người đứng đầu các thị tộc, và các gia tộc của họ đã tăng lên rất nhiều. 39 Từ lối vào Gơ-đo, họ đi tới phía đông thung lũng để tìm đồng cỏ cho đoàn vật của mình. 40 Họ tìm được những đồng cỏ xanh tươi, tốt đẹp, và đất đai thì rộng thênh thang, lại an toàn và yên ổn: vì trước kia con cái ông Kham đã cư ngụ tại đó.
41 Các người được ghi đích danh ấy đã tới vào thời vua Khít-ki-gia làm vua Giu-đa; họ đánh chiếm các lều trại và gia cư gặp thấy ở đó. Họ áp dụng luật tru hiến cho những thứ ấy đến ngày nay. Rồi họ định cư thay thế người ta, vì ở đấy có đồng cỏ cho đoàn vật của họ.
42 Năm trăm người trong số con cái Si-mê-ôn đi tới vùng núi Xê-ia, đứng đầu là ông Pơ-lát-gia, ông Nơ-ác-gia, ông Rơ-pha-gia, ông Út-di-ên, các con ông Gít-i. 43 Họ giết hết số người A-ma-lếch thoát chết còn sót lại, rồi cư ngụ ở đó cho đến ngày nay.
CHIA SẺ

     Sau bốn chương đầu tiên của sách Sử Biên Niên, nếu không để ý chắc chúng ta dễ dàng lướt qua cái tên Gia-bết. Nhưng ông giống như một ngôi sao sáng trong danh sách, toàn những cái tên mà chúng không cho ta biết nhiều vtính cách của các nhân vật đó. Điều làm cho Gia-bết được nhớ đến không phải do những thành tích ông đạt được, nhưng chỉ là một lời cầu nguyện. Ông đã không chiến thắng những trận chiến vĩ đại, hay xây dựng những công trình nguy nga. Trong danh sách rất nhiều những cái tên mà chúng ta đọc trong chín chương đầu, chỉ mình ông được tôn vinh vì lời cầu nguyện mà ông đã cầu xin cùng Thiên Chúa.
Lời cầu nguyện của ông có bốn phần: ông cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho ông; ông cầu xin Thiên Chúa mở rộng biên cương đất nước ông; ông xin bàn tay Thiên Chúa đặt trên ông; và cuối cùng ông xin Thiên Chúa giữ ông khỏi cơn khốn khó. Với lời cầu xin mở rộng biên cương, ông không nhắm đến quyền lực của mình bao trùm trên một vùng đất rộng lớn hơn cho bằng phúc lành của Thiên Chúa ban cho ông được chia sẻ cho nhiều người khác.
Nếu bạn cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho bạn, bạn sẽ xin điều gì ? Theo bạn tại sao và chúng ta đã đánh mất phúc lành của Thiên Chúa như thế nào ?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Kính mời quý ACE chia sẻ cảm nhận hoặc nêu thắc mắc ở đây. Xin cám ơn.
HHTLC