Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

CHƯƠNG 38 - SÁCH XUẤT HÀNH


Bàn thờ dâng lễ toàn thiêu (Xh 27: 1-8)
1 Ông làm bàn thờ dâng lễ toàn thiêu bằng gỗ keo: dài hai thước rưỡi, rộng hai thước rưỡi - nghĩa là hình vuông -, cao một thước rưỡi;
2 ông làm bốn cái sừng ở bốn góc, các sừng ấy làm thành một khối với bàn thờ. Ông lấy đồng mà bọc bàn thờ. 3 Ông làm các đồ dùng trên bàn thờ: nồi, xẻng, bình rảy, xiên và lư hương; các đồ dùng ấy, ông làm bằng đồng. 4 Ông làm một cái vỉ bằng đồng, hình lưới, bọc quanh chân bàn thờ, từ đất lên đến nửa chiều cao của bàn thờ. 5 Ông đúc bốn chiếc vòng đặt ở bốn góc vỉ đồng, dùng để xỏ đòn. 6 Ông làm những cây đòn bằng gỗ keo, và bọc đồng những đòn ấy. 7 Ông xỏ đòn vào vòng ở hai bên bàn thờ, để khiêng. Ông làm bàn thờ rỗng, bằng ván ghép lại.
Bàn thờ dâng lễ toàn thiêu

Vạc đồng (Xh 30: 18)
8 Ông làm cái vạc đồng có đế cũng bằng đồng, với những gương soi cho phụ nữ phục vụ ở cửa Lều Hội Ngộ.
Khuôn viên (Xh 27: 9-19)
9 Ông làm khuôn viên. Phía nam, hướng Ne-ghép, khuôn viên có những tấm rèm bằng sợi gai mịn xe dài năm mươi thước. 10 Hai mươi cột treo rèm dựng trên hai mươi đế bằng đồng; móc ở các cột và thanh treo rèm thì bằng bạc. 11 Phía bắc, có những tấm rèm năm mươi thước; hai mươi cột treo rèm dựng trên hai mươi đế bằng đồng; móc ở các cột và thanh treo rèm thì bằng bạc. 12 Phía biển, có những tấm rèm hai mươi lăm thước, với mười cột và mười đế. 13 Về hướng đông, phía mặt trời mọc, khuôn viên rộng hai mươi lăm thước; 14 một bên che tấm rèm bảy thước rưỡi, có ba cột với ba đế; 15 bên kia, - nghĩa là hai bên cửa khuôn viên -, cũng che tấm rèm bảy thước rưỡi, có ba cột với ba đế. 16 Tất cả các rèm chung quanh khuôn viên đều bằng sợi gai mịn xe. 17 Những đế cột thì bằng đồng, những móc ở các cột và thanh treo rèm thì bằng bạc, đầu cột thiếp bạc. Như vậy, mọi cột trong khuôn viên đều nối liền với nhau nhờ những thanh treo rèm bằng bạc. 18 Bức màn ở cửa khuôn viên thì bằng chỉ đỏ tía, chỉ điều, chỉ đỏ thẫm và sợi gai mịn xe: đó là công việc của thợ thêu. Bức màn đó dài mười thước, cao - nghĩa là rộng -, hai thước rưỡi, như những tấm rèm của khuôn viên. 19 Bốn cột treo rèm và bốn đế thì bằng đồng, móc bằng bạc, đầu cột thiếp bạc, thanh treo rèm cũng bằng bạc. 20 Mọi cái cọc của Nhà Tạm và chung quanh khuôn viên đều bằng đồng.
Bảng kết toán
21 Ðây là bảng kết toán về Nhà Tạm, Nhà Tạm Chứng Ước. Ông Mô-sê đã ra lệnh cho các thầy Lê-vi, dưới sự hướng dẫn của ông I-tha-ma, con của tư tế A-ha-ron, phải làm bảng này.
22 Chính ông Bơ-xan-ên, con ông U-ri, con ông Khua, thuộc chi tộc Giu-đa, đã thi hành mọi điều Ðức Chúa truyền cho ông Mô-sê. 23 Người phụ tá của ông là O-ho-li-áp, con của ông A-khi-xa-mác, thuộc chi tộc Ðan; ông là thợ chạm và là nghệ nhân, là thợ thêu chỉ đỏ tía, chỉ điều, chỉ đỏ thẫm và sợi gai mịn.
24 Tổng số vàng dân đã dâng cúng để dùng vào công trình, công trình dựng nơi thánh, là tám trăm bảy mươi ký và hai trăm hai mươi lượng, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. 25 Số bạc những người trong cộng đồng thuộc diện kiểm tra dân số đã dâng là ba ngàn ký và năm trăm ba mươi lượng, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. 26 Mỗi đầu người là hai chỉ bạc, tức là nửa se-ken, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện; bất cứ ai thuộc diện kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, tức là sáu trăm lẻ ba ngàn năm trăm năm mươi người, đều phải đóng góp như vậy. 27 Ba ngàn ký bạc để đúc các đế của nơi thánh và của bức trướng: một trăm đế mất ba ngàn ký, mỗi đế ba mươi ký. 28 Ông dùng năm trăm ba mươi lượng để làm móc cột, thiếp đầu cột và nối các cột lại nhờ những thanh treo màn. 29 Số đồng người ta dâng cúng là hai ngàn một trăm hai mươi bốn ký. 30 Ông đem dùng làm các đế đặt ở cửa Lều Hội Ngộ, bàn thờ đồng và vỉ đồng, mọi đồ phụ tùng của bàn thờ, 31 các đế chung quanh khuôn viên, các đế ở cửa khuôn viên, mọi cái cọc của Nhà Tạm và chung quanh khuôn viên.

CHIA SẺ

Bàn thờ dâng của lễ toàn thiêu (38:1–7) ám chỉ đến thập giá, nơi Đức Giêsu dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa như một của lễ toàn thiêu. Không có cách thức nào để đến với Thiên Chúa ngoài cái chết tự hiến của Ngài.
Vạc đồng (38:8) nói về sứ vụ của Đức Kitô, tẩy sạch dân Ngài bằng nước và Lời hằng sống (Ep 5:26). Các tư tế được đòi buộc rửa tay và chân trước khi thực hiện bất kỳ sứ vụ nào. Vì thế những hoạt động và bước chân của chúng ta phải được thanh tẩy trước khi chúng ta có thể phục vụ Chúa một cách hiệu quả. Vạc được làm với những gương soi bằng đồng cho những phụ nữ phục vụ ở cửa lều hội ngộ. Thánh Phao-lô nói về Lời của Thiên Chúa thánh hóa và thanh tẩy được ví như vạc đồng “Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống” (Ep 5:26). Khi chúng ta đến với Lời Ngài, Lời trở thành gương soi cho chúng ta nhìn thấy tâm hồn mình, và sẽ thanh tẩy chúng ta nếu chúng ta sẵn sàng đem Lời hằng sống vào trong đời mình.
Khuôn viên (38:9–31). Khuôn viên bên xung quanh lều tạm treo những màn trắng, năm mươi sáu cột với những đế bằng đồng và móc bằng bạc, và bức màn thêu ở cửa ra vào. Tấm màn trắng ám chỉ đến sự công chính dùng để ngăn những người tội lỗi đến gần Thiên Chúa, nhưng nó cũng tách rời và bảo vệ những người tín hữu bên trong. Chỉ có một lối vào khuôn viên là cổng làm bằng sợi gai mịn và thêu bằng chỉ đỏ tía, chỉ điều, chỉ đỏ thẫm. Tấm màn này ám chỉ đến Đức Kitô (Ta là cửa,” Ga 10:9) là cửa duy nhất để đến với Thiên Chúa. Sợi gai mịn cho thấy Ngài tinh tuyền không tì vết; màu tím, vinh quang của Ngài; đỏ thẫm, sự đau khổ của Ngài vì tội.
Tên của những nghệ nhân (38:21–23) được lập lại. Bất cứ khi nào Thiên Chúa có một sứ mạng cần làm, Ngài sẽ mang đến những con người để thực hiện. Đối với lều tạm, Ngài đã gọi và trang bị cho Bơ-xan-ên và O-ho-li-áp. Đối với việc xây dựng đền thờ, Ngài đã dùng Khi-ram dâng cúng vật liệu (1V 5:24). Đối với Giáo hội, Ngài đã gọi những người thợ, Phê-rô và Phaolô.
Vật liệu (38:24–31) được sử dụng trong việc dựng lều tạm được phân biệt rất cẩn thận. Chúng ta có thể cũng dâng cúng những tài sản của mình cho công việc của Thiên Chúa, với một tinh thần “mọi sự ấy Chúa ban cho con, nay con xin dâng lại cho Chúa, tất cả là của Chúa, xin sử dụng theo ý Ngài” (Lời cầu nguyện của Thánh Inhaxio Loyola).
Theo như trong trình thuật chúng ta sẽ thấy ba chất liệu kim loại được sử dụng là đồng, bạc, và vàng. Các chất liệu này được đặt ở những nơi khác nhau: đồng được sử dụng cho khu vực mới bước vào trong lều; bạc được sử dụng ở nơi thánh, là nơi chỉ dành cho các tư tế; vàng được dùng ở nơi cực thánh, là nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện. Tuy nhiên, qua cái chết của Ngài (Mt 27: 50-51), Đức Giêsu đã cho phép chúng ta bước vào nơi cực thánh, là nơi Thiên Chúa hiện diện. Bằng nổ lực của cá nhân, chúng ta cũng có thể đánh bóng đồng và bạc, làm cho chúng sáng, và có thể phản chiếu ánh quang của Thiên Chúa. Những nổ lực này bạn có xem như là những của lễ dâng lên Thiên Chúa và quên đi những lao nhọc đòi hỏi bởi công việc ấy ? Hành trình của bạn đạt tới vị trí của vàng chưa, là nơi chẳng cần phải đánh bóng vì tự bản chất vàng không bị hoen r, t ố, nơi đó chúng ta được phản chiếu vinh quang Thiên Chúa bằng chính ân sủng của Ngài ? Hành trình thiêng liêng của bạn đến với Thiên Chúa tới giai đoạn nào: đồng, bạc, hay vàng ?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Kính mời quý ACE chia sẻ cảm nhận hoặc nêu thắc mắc ở đây. Xin cám ơn.
HHTLC