Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 150

Thánh Vịnh 150 (149):
Ca tụng Chúa đi

(1) Ha-lê-lui-a!
Ca tụng Chúa đi, trong đền thánh Chúa,
ca tụng Người chốn cao thẳm uy linh.
 
(2) Ca tụng Chúa vì công trình hùng vĩ,
ca tụng Người lẫm liệt uy phong.


Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 149

Thánh Vịnh 149 (148):
Các tín hữu ca khúc khải hoàn

(1) Ha-lê-lui-a!
Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới,
ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung!
 
(2) Hỡi Ít-ra-en, nào hoan hỷ,
vì có Chúa là Ðấng tạo thành ngươi.

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 148

Thánh Vịnh 148 (147):
Kêu mời toàn thể tạo thành chúc tụng ÐỨC CHÚA

(1) Ha-lê-lui-a!
Ca tụng CHÚA đi, tự cõi trời thăm thẳm,
ca tụng Người, trên chốn cao xanh.
 

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 147

Thánh Vịnh 147 (146):
Ca tụng ÐỨC CHÚA là Ðấng Toàn Năng

(1) Ha-lê-lui-a!
Hãy ca tụng CHÚA đi!
Ðàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào!
Ðược tán tụng Người, thoả tình biết mấy!
 
(2) CHÚA là Ðấng xây dựng lại Giê-ru-sa-lem,
quy tụ dân Ít-ra-en tản lạc về.


Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 146

Thánh Vịnh 146 (145):
Phúc thay người trông cậy Chúa

(1) Ha-lê-lui-a!
Ca tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!
 
(2) Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng CHÚA,
sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời.


Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 145

Thánh Vịnh 145 (144):
Ca ngợi ÐỨC CHÚA là Vua

(1) Ngợi khen. Của vua Ða-vít.
 
  A-lép
 Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
con nguyện tán dương Chúa
và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.


Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 144

Thánh Vịnh 144 (143):
Xin được chiến thắng và hưởng cảnh thịnh vượng

(1) Của vua Ða-vít.
 Chúc tụng CHÚA là núi đá cho tôi nương ẩn,
là Ðấng dạy tôi nên người thiện chiến,
luyện thành tay võ nghệ cao cường.
 

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 143

Thánh Vịnh 143 (142):
Lời cầu xin lúc gặp hiểm nguy

(1) Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.
 
  Lạy CHÚA, xin nghe lời con khẩn nguyện,
lắng nghe con nài van, bởi Ngài thành tín,
đáp lại lời con, vì Ngài công minh.
 

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 142

Thánh Vịnh 142 (141):
ÐỨC CHÚA là nơi tôi trú ẩn

(1) Thi khúc. Của vua Ða-vít. Khi vua Ða-vít ở trong hang. Cầu nguyện.
 
  (2) Tôi lớn tiếng kêu gào lên CHÚA,
tôi lớn tiếng cầu khẩn CHÚA thương,
 

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 141

Thánh Vịnh 141 (140):
Lời cầu cho khỏi bị lôi kéo làm điều ác

(1) Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.
 
  Lạy CHÚA, con kêu lên cùng Chúa,
xin Ngài mau đến phù trợ con.
Xin lắng nghe lời con, khi con kêu lên Ngài.
 

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 140

Thánh Vịnh 140 (139):
ÐỨC CHÚA là Ðấng bảo vệ người khốn khổ khó nghèo

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.
(2) Lạy CHÚA, xin cứu con khỏi người gian ác,
giữ gìn con khỏi kẻ bạo tàn.
 

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 139

Thánh Vịnh 139 (138):
ÐỨC CHÚA ở khắp mọi nơi biết hết mọi sự

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.
Lạy CHÚA, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, 

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 138

Thánh Vịnh 138 (137):
Lời cảm tạ

(1) Của vua Ða-vít.
    Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,
    Ngài đã nghe lời miệng con xin.
    Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa,
     

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 137

Thánh Vịnh 137 (136):

Trên bờ sông Ba-by-lon

    (1) Bờ sông Ba-by-lon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Xi-on; 

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 136

  Thánh Vịnh 136 (135):

Tạ ơn Thiên Chúa

    (1) Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,
    muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
     

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 135

 Thánh Vịnh 135 (134):

Ca tụng Chúa đã thực hiện bao kỳ công

    (1) Ha-lê-lui-a.
    Nào ca tụng danh thánh CHÚA đi,
    ca tụng Người, hỡi tôi tớ CHÚA
     (2) đang ứng trực trong cung điện Người,
    tại khuôn viên đền Thiên Chúa chúng ta!

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 134

Thánh Vịnh 134 (133):

Kinh đêm trong Ðền Thánh

(1) Ca khúc lên Ðền.
    Hỡi tất cả những người tôi tớ CHÚA
    ứng trực suốt đêm trong thánh điện, nào chúc tụng CHÚA đi!
     

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 133

Thánh Vịnh 133 (132):
Anh em thuận hoà thì tốt đẹp biết bao

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít
    Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay,
    anh em được sống vui vầy bên nhau, (2) như dầu quý đổ trên đầu

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 132

 Thánh Vịnh 132 (131):

Lời Chúa hứa cùng nhà Ða-vít

(1) Ca khúc lên Ðền
    Lạy CHÚA, xin Ngài nhớ đến vua Ða-vít
    và mọi công lao vất vả của người:
     

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 131

Thánh Vịnh 131 (130):

Như trẻ thơ đặt hết niềm tin nơi Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.
    Lòng con chẳng dám tự cao,
    mắt con chẳng dám tự hào, CHÚA ơi!

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 130

Thánh Vịnh 130 (129):

Tiếng kêu từ vực thẳm

(1) Ca khúc lên Ðền.
    Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy CHÚA, 
    (2) muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.
    Dám xin Ngài lắng tai để ý
    Nghe lời con tha thiết nguyện cầu.

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 129

Thánh Vịnh 129 (128):
Bị hà hiếp dân Chúa vẫn một niềm tin tưởng

(1) Ca khúc lên Ðền.
    Từ lúc tôi còn trẻ, chúng hà hiếp tôi nhiều,
    Ít-ra-en hãy nói lên điều đó.
     

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 128

 Thánh Vịnh 128 (127):

Hạnh phúc thay kẻ kính sợ Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.
    Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA,
    ăn ở theo đường lối của Người.
     

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 127

Thánh Vịnh 127 (126):
Vất vả uổng công nếu không có Chúa giúp

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Sa-lô-môn.
    Ví như CHÚA chẳng xây nhà,
    thợ nề vất vả cũng là uổng công.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 126

Thánh Vịnh 126 (125):
Niềm vui và hy vọng đặt nơi Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.
    Khi CHÚA dẫn tù nhân Xi-on trở về,
    ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
     

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 125

Thánh Vịnh 125 (124):
ÐỨC CHÚA che chở Dân Người

(1) Ca khúc lên Ðền.
 
  Ai tin tưởng vào CHÚA, khác nào núi Xi-on
chẳng bao giờ lay chuyển, muôn thuở vẫn trường tồn.
 

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 124

Thánh Vịnh 124 (123):
Ít-ra-en được phù hộ khi kêu cầu danh ÐỨC CHÚA

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.
 
  Nếu mà CHÚA chẳng đỡ bênh ta,
nhà Ít-ra-en hãy nói lên rằng:

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 123

Thánh Vịnh 123 (122):
Dân Ít-ra-en bị áp bức đặt hy vọng nơi Thiên Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.
 
  Con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa,
Ðấng đang ngự trên trời.
 

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 122

Thánh Vịnh 122 (121):
Thành Thánh Giê-ru-sa-lem

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.
 
  Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi:
"Ta cùng trẩy lên đền thánh CHÚA!"
Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi,
 

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 121

Thánh Vịnh 121 (120):
ÐỨC CHÚA là Ðấng bảo vệ Dân

(1) Ca khúc lên Ðền.
 
  Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi,
ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

THÁNH VỊNH 120

Thánh Vịnh 120 (119):
Ước mong được sống bình an

(1) Ca khúc lên Ðền.
 
Lúc ngặt nghèo, tôi kêu lên cùng CHÚA,
Chúa đã thương đáp lời.
 

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 119 (phần 2)

Thánh Vịnh 119 (118) 

(phần tiếp theo)

 Mêm
 (97) Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao,
suốt ngày cứ suy đi gẫm lại!


Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 119 (phần 1)

Thánh Vịnh 119 (118):
Ca ngợi Lề Luật

A-lép (1) Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,
biết noi theo luật pháp CHÚA TRỜI.


Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 117-118

Thánh Vịnh 117 (116):
Kêu gọi mọi người ca tụng Chúa

(1) Muôn nước hỡi, nào ca ngợi CHÚA,
ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người! 



Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 116

Thánh Vịnh 116 (114-115):
Lời kinh tạ ơn

(1) Lòng tôi yêu mến Chúa, vì CHÚA đã nghe tiếng tôi khẩn nài, 
(2) Người lại lắng tai ngày tôi kêu cứu.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 115

Thánh Vịnh 115 (113B):
Ca tụng ÐỨC CHÚA, Ðấng duy nhất và nhân hậu

(1) Xin đừng làm rạng rỡ chúng con, vâng lạy CHÚA, xin đừng,
nhưng xin cho danh Ngài rạng rỡ,
bởi vì Ngài thành tín yêu thương.
 

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 114

Thánh Vịnh 114 (113A):
Thiên Chúa cho Ít-ra-en vượt qua Biển Ðỏ và sông Gio-đan

(1) Ha-lê-lui-a.
Thuở Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập,
thuở nhà Gia-cóp rời bỏ ngoại bang,
 

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 113

Thánh Vịnh 113 (112):
Danh Chúa đáng ca ngợi

(1) Ha-lê-lui-a.
Hỡi tôi tớ CHÚA, hãy dâng lời ca ngợi,
Nào ca ngợi danh thánh CHÚA đi!
 

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 112

Thánh Vịnh 112 (111):
Hạnh phúc thay người công chính

(1) Ha-lê-lui-a.
Alép
Hạnh phúc thay, người kính sợ CHÚA,

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 111

Thánh Vịnh 111 (110):
Sự nghiệp ÐỨC CHÚA oai phong hiển hách

(1) Ha-lê-lui-a. Alép
Tôi xin hết lòng cảm tạ CHÚA,

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 110

Thánh Vịnh 110 (109):
Ðấng Mê-si-a là Vua và Thượng Tế

(1) Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.
 
  Sấm ngôn của ÐỨC CHÚA
Ngỏ cùng Chúa Thượng tôi:
"Bên hữu Cha đây, con lên ngự trị,
để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con."
 (2) Từ Xi-on, ÐỨC CHÚA sẽ mở rộng quyền vương đế của Ngài:
Giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ.

 (3) Ðức Chúa phán bảo rằng:
"Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh,
vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh.
Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện,
tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con."

 (4) ÐỨC CHÚA đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời,
rằng: "Muôn thuở, Con là Thượng Tế
theo phẩm trật Men-ki-xê-đê."

 (5) Tâu Chúa Thượng, Ðức Chúa ở bên hữu Ngài
sẽ đập tan vương bá ngày phẫn nộ,

 (6) sẽ xét xử muôn dân, chất thây ma thành đống,
đập tan bao thủ lãnh trên miền đất mênh mông.

 (7) Dọc đường, Chúa Thượng tôi uống nơi mạch suối,
nên sẽ ngẩng đầu thật hiên ngang.

CHIA SẺ

Thánh vịnh này được trích trong Tân ước nhiều nhất trong số các Thánh vịnh. Đức Giê-su (Mt 22:41-46), thánh Phê-rô (Cv 2:32-36), và cả tác giả sách Thư Do Thái đã trích Thánh vịnh này nhiều lần. Nếu bạn tham gia với Đức Chúa trong trận chiến chống lại kẻ thù, bạn phải chuẩn bị bản thân như thế nào?
Đức Chúa (c.1). Đức Giê-su tập trung vào vấn đề cụ thể khi Ngài đặt câu hỏi: “Nếu Đức Mê-si-a là con vua Đa-vít, thì làm thế nào Ngài lại là Chúa Thượng của nhà vua được?” Ở đây chỉ có một câu trả lời: Đức Mê-si-a phải đến trong tư cách là một con người thuộc dòng họ vua Đa-vít. Mê-si-a vừa là Thiên Chúa vĩnh hằng và là người, bao gồm cả thiên tính và nhân tính. Ngài ngự ở nơi vinh quang và quyền bính. Có khi nào bạn cũng đặt vấn đề về niềm tin của mình vào Thiên Chua, và những lúc như vậy bạn vượt qua khủng hoảng đức tin của mình như thế nào?
Đức Vua (c.2-3). Đây là một hình ảnh chiến thắng trên các kẻ thù của Đấng Mê-si-a. Chiến thắng cuối cùng chưa xảy ra, nhưng Ngài vẫn ngự trị giữa các kẻ thù. Bạn có phải là một trong những người tình nguyện trong trận chiến chống lại tội lỗi?
Tư Tế (c.4). Thư Do Thái chương 7-10 giải thích cho câu này, và hậu trường của câu này chính là trong sách Sáng Thế Ký chương 14. Men-ki-sê-đê và Đức Giê-su Ki-tô là những vị tư tê-vua duy nhất được Thiên Chúa chấp nhận. Trong tư cách là một vị vua, Đức Giê-su có thể giải quyết mọi hoàn cảnh xung quanh bạn; trong tư cách là Tư Tế, Ngài có thể giúp bạn đỡ bạn liên quan đến những cảm xúc và yếu đuối bên trong bạn. Trong tư cách là Thượng Tế, Ngài có thể chuyển cầu cho bạn. Bạn có xác tín về lời cầu xin của mình khi chạy đến với Thiên Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Giê-su Ki-tô?
Thẩm phán (5-7). Ngày thịnh nộ sắp đến khi Đức Giê-su sẽ xử những kẻ thù của Ngài một lần cuối (Kh 19:11-20:15). Ngài sẽ là Người chiến thắng và sẽ ngẩng cao đầu trong sự tán dương. Ngài là Đấng chuyển cầu cho bạn, nhưng cũng sẽ là Đấng xét xử bạn một cách công bình. Liệu đây có phải là lúc thích hợp để bạn thực hiện những thay đổi cần thiết chuẩn bị cho cuộc diện kiến Ngài trong ngày chung thẩm?
Nếu bạn biết Ngài trong tư cách là Con Thiên Chúa và là Thượng Tế, hãy vâng phục Ngài trong tư cách là Vua, và hãy kiếm phương thế để chiến thắng mọi cám dỗ trước khi Ngài đến trong tư cách là một Thẩm Phán.

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 109

Thánh Vịnh 109 (108):
Bị kẻ thù nguyền rủa, xin ÐỨC CHÚA ban phúc lành

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.  
Lạy Thiên Chúa là Ðấng con ca ngợi,
xin Chúa đừng lặng thinh.

 (2) Bởi vì kẻ gian ngoa độc dữ mở miệng nhằm hại con,
nói với con toàn lời dối trá,

 (3) buông lời hằn học bủa vây con, tấn công con vô cớ.
 (4) Con thương nó, nhưng nó lại vu oan,
phần con, con chỉ biết cầu nguyện.

 (5) Nó lấy oán đền ơn,
lấy hận thù đáp lại lòng con thương mến.

 (6) Xin cho kẻ dữ nổi lên chống nó,
bên phải nó, đặt một người cáo tội đứng kèm.

 (7) Ước gì nó phải mang án khi ra khỏi cửa công,
và lời xin ân xá thành lời buộc tội.

 (8) Ước gì ngày đời nó bị rút ngắn đi,
chức vụ nó vào tay kẻ khác,

 (9) con cái nó trở thành mồ côi,
còn vợ nó ra người goá bụa!

 (10) Ước gì con cái nó phải lang thang ăn mày,
bị đuổi ra khỏi nhà, nhà đã tan hoang,

 (11) chủ nợ đến vét sạch bạc tiền
và người lạ đoạt hết của mồ hôi nước mắt.

 (12) Ước chi chẳng còn ai tình nghĩa gì với nó,
chẳng người nào thương lũ con nó mồ côi,

 (13) dòng dõi nó bị tru di tam tộc,
sau một đời, tên tuổi bị xoá nhoà!

 (14) Ước gì CHÚA nhớ lại tội cha ông nó,
lỗi của mẹ nó không hề được xoá bỏ đi!

 (15) Các tội ấy cứ sờ sờ trước mặt CHÚA,
xin Chúa xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời!

 (16) Bởi nó đã chẳng màng điều nhân việc nghĩa,
đã ngược đãi kẻ khó người nghèo
và giết hại cả người đã héo hắt tâm can.

 (17) Nó đã thích nguyền rủa,
thì cho lời nguyền rủa đổ lên đầu nó;
nó chẳng ưa chúc lành,
thì cho lời chúc lành bỏ nó mà đi!

 (18) Nó đã lấy lời nguyền rủa làm như áo mặc,
thì cho lời nguyền rủa thấm vào thân nó:
như nước thấm ruột gan, như dầu vào xương tủy.

 (19) Ước chi lời nguyền rủa như áo choàng quấn chặt lấy nó,
như đai lưng thắt mãi không rời!

 (20) Những kẻ vu cáo tôi, những kẻ nói xấu tôi:
ước gì CHÚA trả công như vậy!

 (21) Còn Ngài, lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ,
vì danh dự của Ngài, xin bênh đỡ,
vì lòng Ngài yêu thương nhân hậu, xin giải thoát con,

 (22) bởi vì con khốn khổ nghèo hèn,
nghe trong mình con tim rướm máu.

 (23) Con ra đi, như chiều tà bóng ngả,
bị cuốn lôi đi như gió cuốn cào cào.

 (24) Gối rã rời, vì nhịn ăn nhịn uống,
thân xác con gầy còm yếu nhược.

 (25) Con bị người đời mắng chửi dể duôi,
trông thấy con là chúng lắc đầu.

 (26) Lạy CHÚA là Thiên Chúa của con, xin thương phù hộ,
xin lấy lòng nhân hậu cứu độ con,

 (27) để chúng biết rằng chính Ngài, lạy CHÚA,
chính tay Ngài đã làm như vậy!

 (28) Chúng cứ nguyền rủa đi,
nhưng phần Ngài, xin Ngài giáng phúc.
Chúng cứ việc nổi dậy chống con,
chúng sẽ phải nhục nhằn xấu hổ.
Nhưng tôi tớ Ngài đây sẽ được vui mừng.

 (29) Ước gì những kẻ tố cáo con bị phủ đầy nhục nhã,
bị xấu hổ trùm lên như chiếc áo choàng.

 (30) Tôi sẽ hết lời cảm tạ CHÚA,
tán dương Người giữa lòng đại hội,

 (31) vì Chúa đứng bên, bênh vực kẻ nghèo hèn,
để cứu độ khỏi tay người kết án.

CHIA SẺ

Khi người ta nói những điều sai lạc về bạn, nói những điều đầy căm hờn về bạn, và lấy oán báo ơn bạn, Thánh vịnh này sẽ an ủi bạn nhiều điều. Khi lòng bạn bị tổn thương (c.22) và không có cách nào để phân minh rõ ràng, hãy mang điều đó đến với Thiên Chúa và kể cho Ngài biết bạn cảm thấy thế nào. Phản ứng đầu tiên của bạn khi gặp những điều tổn thương là gì ?
Câu 5-20 ghi lại một “lời cầu nguyền rủa” khác của Đa-vít (x Tv 58). Ông cầu xin Thiên Chúa phân xử người nói lời dối trá về ông (c.6-8) và xin phân xử con cái của con người (c.9-13). Ông thậm chí ước rằng những tội lỗi của tổ tiên của họ cũng bị đem ra trước mặt Thiên Chúa để bị xét xử (c.14-16), và những kẻ dối trá sẽ gặt lấy những điều mà họ gieo (c.18-20). Liệu Đa-vít có được bào chữa khi cầu xin Thiên Chúa trả thù chống lại kẻ thù của ông, hay đây chỉ là một ví dụ về sự thành thật và cảm xúc trào dâng lên mà không được kiềm chế ? Khi bạn bị đối xử một cách bất công và thiếu tôn trọng, bạn có phản ứng bằng những lời nguyền rủa, hay bạn có cách hành xử nào khác ?
Khi bạn cảm thấy những điều này, hãy đến với Thiên Chúa để Ngài chữa lành con tim tổn thương của bạn (Tv 147:3). Cho dù, Thiên Chúa đối xử với kẻ thù của bạn như thế nào đi nữa, hãy bảo đảm rằng bạn ca ngợi Ngài. Và hãy nhớ rằng: Ngài chậm giận với những người tội lỗi, trong số đó có bạn ! Cách thức tốt nhất để tránh nguy hiểm từ kẻ thù là hãy để chúng lại với Thiên Chúa. Bạn quay về đâu khi bạn bị đối xử bất công và bị người khác làm tổn thương ?

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 108

Thánh Vịnh 108 (107):
Ca tụng Thiên Chúa và xin Người thương giúp

(1) Thánh ca. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.
 
  (2) Con vững dạ an lòng, lạy Thiên Chúa,
này con xin đàn hát xướng ca với tất cả tâm hồn.
 
(3) Thức dậy đi, hỡi đàn sắt đàn cầm,
tôi còn đánh thức cả bình minh.

 (4) Lạy THIÊN CHÚA, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ,
giữa lòng muôn nước, con đàn hát xướng ca.

 (5) Vì tình thương của Ngài cao ngất trời xanh,
lòng thành tín vượt ngàn mây thẳm.

 (6) Lạy Thiên Chúa, xin biểu thị uy phong khắp cõi trời
và chiếu toả vinh quang đầy mặt đất.

 (7) Xin ra tay cứu độ, và đáp lời chúng con,
để những kẻ Ngài yêu thương được ơn giải thoát.

 (8) Trong thánh điện, Chúa Trời tuyên phán:
Khấp khởi mừng, Ta chia cắt Si-khem,
Ta đo đạc cả đồng bằng Xúc-cốt.

 (9) Ga-la-át về Ta, Mơ-na-se cũng về Ta,
Ta lấy Ép-ra-im làm mũ chiến đội đầu,
lấy Giu-đa làm cây gậy chỉ huy.

 (10) "Mô-áp là chậu Ta tắm rửa, Ê-đôm là chỗ Ta liệng giày,
đánh bại Phi-li-tinh, Ta reo mừng thắng trận."

 (11) Lạy Thiên Chúa, ai sẽ đưa con vào thành kiên cố,
ai sẽ dắt con đến tận Ê-đôm?

 (12) Há chẳng phải chính Ngài,
Ðấng đã từng ruồng bỏ chúng con,
chẳng còn dẫn ba quân xuất trận?

 (13) Xin Ngài thương cứu viện, cho chúng con thoát khỏi quân thù,
chứ người phàm giúp đỡ chỉ bằng không.

 (14) Có Thiên Chúa, ta sẽ trổ tài oanh liệt,
chính Người chà đạp kẻ thù ta.

CHIA SẺ
 Thánh vịnh này là một sự tổng hợp từ Thánh vịnh 57:8-12 (c.2-6) và Thánh vịnh 60:6-13 (c.7-13). Đó là bài ca của một chiến binh, và trong đó, Đa-vít đã khẳng định ba điều.
“Tôi sẽ ca ngợi” (c.2-7). Một con tim kiên định là một con tim ca hát, bởi vì bạn tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ ban cho bạn một lý do nào đó để bạn hát ca ngợi khen Ngài. Đa-vít đã chỗi dậy từ sáng sớm để ca tụng Thiên Chúa. Thờ phượng là một cách tốt để chuẩn bị bước vào trận chiến. Để có thể ca hát và ngợi khen Thiên Chúa với toàn thể tấm lòng, con tim bạn phải kiên định, ổn định và không thay đổi. Trong tư cách là một người Ki-tô hữu làm thế nào để bạn có thể đạt được những điều này ?
“Tôi sẽ lắng nghe” (c. 8-10). Thiên Chúa đã nghe tiếng vua Đa-vít, và rồi Đa-vít đã lắng nghe tiếng Chúa. Đấy là một lời bảo đảm khi nhà vua lên đường bước vào trận chiến: “Tất cả mọi vương quốc đều thuộc về tôi, và tôi có thể làm gì theo cách tôi muốn”. Đôi khi, chúng ta không nhận ra sự yếu đuối của mình, bởi vì những cản trở làm cho chúng ta không thể nghe được những hướng dẫn từ nơi Thiên Chúa. Bạn có thể nhận ra đó là những cản trở nào trong đời sống của bạn và bạn cần trợ giúp gì để có thể lắng nghe tiếng Chúa tốt hơn ?
“Ta sẽ chinh phục” (c.11-14). Thiên Chúa dẫn chúng ta bước vào trận chiến, giúp chúng ta hạ được sức mạnh của kẻ thù, và ban cho chúng ta chiến thắng. Câu 14 trong Thánh vịnh là sự tương đồng giữa vua Đa-vít với tâm tình của thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Phi-lip-phê 4:13 “Với Ðấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết”. Điều đó là chính xác với Đa-vít và Phao-lô, và cũng chính xác cho chúng ta ngày hôm nay. Bạn phải cậy dựa vào Thiên Chúa trong cuộc chiến của cuộc đời bạn thay vì cậy dựa vào chính bản thân hay bất kỳ một ai đó. Với sự trợ giúp của Thiên Chúa, Ngài sẽ ban cho bạn chiến thắng. Đâu là cuộc chiến hiện tại của bạn, và bạn đang chiến đấu bằng sức mạnh nào ?

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

THÁNH VỊNH 107

Thánh Vịnh 107 (106):
Tạ ơn Chúa vì được Người giải thoát

(1) Ha-lê-luia.
Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
 (2) Họ sẽ cùng nói lên như vậy,
những người được CHÚA thương giải thoát;
giải thoát cho khỏi tay địch thù,

 (3) triệu tập về từ bao viễn xứ,
khắp miền nam bắc, khắp ngả đông tây.

 (4) Họ lạc bước trong vùng sa mạc, nơi cằn cỗi,
không thấy đường về chốn thành thị để định cư,

 (5) vừa đói vừa khát, mạng sống đã hầu tàn.
Khi gặp bước ngặt nghèo,

 (6) họ kêu lên cùng CHÚA,
Người đưa tay kéo họ ra khỏi cảnh gian truân,

 (7) dắt họ đi thẳng đường ngay lối
về chốn thành thị để định cư.

 (8) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,
và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 (9) Họng ráo khô, Chúa cho uống phỉ tình,
bụng đói lả, Người cho ăn thoả thích.

 (10) Họ phải sống trong cảnh tối tăm mù mịt,
kiếp lầm than xiềng xích gông cùm;

 (11) vì họ chống cưỡng lời Thiên Chúa,
dám khinh nhờn lệnh Ðấng Tối Cao,

 (12) Người bắt họ nếm mùi gian khổ,
phải lao đao mà không kẻ đỡ nâng.

 (13) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,
Người ra tay cứu họ thoát ngàn nỗi gian truân:

 (14) đưa ra khỏi cảnh tối tăm mù mịt
và đập tan xiềng xích gông cùm.

 (15) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,
và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 (16) Cửa đồng kia, Chúa đã phá tung,
then sắt nọ, tay Người bẻ gãy.

 (17) Họ hoá điên trong cuộc đời lầm lỗi,
gánh tội tình đè nặng tấm thân,

 (18) mọi thức ăn, họ đều chê chán,
và tiến gần tới cửa âm ty.

 (19) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,
Người ra tay cứu họ thoát ngàn nỗi gian truân.

 (20) Sai lời Người đến, chữa cho lành mạnh,
cứu họ khỏi sa hố sâu.

 (21) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,
và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 (22) Ước chi họ dâng lễ tế tạ ơn Chúa,
cất tiếng hò reo, tường thuật việc Chúa làm.

 (23) Họ vượt biển ngược xuôi nghề thương mãi,
giữa trùng dương lèo lái con tàu,

 (24) mắt đã tường việc CHÚA làm nên
và kỳ công Người thực hiện giữa dòng nước lũ.

 (25) Chúa truyền lệnh khiến bùng lên bão táp,
lớp sóng xô cuồn cuộn dập dồn.

 (26) Họ nhô lên tận trời, nhào xuống vực sâu,
lúc nguy hiểm, hồn xiêu phách lạc,

 (27) bị quay cuồng, lảo đảo như say,
khéo cùng khôn đã chìm đâu mất.

 (28) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,
Người đưa tay kéo họ ra khỏi cảnh gian truân.

 (29) Ðổi phong ba thành gió thoảng nhẹ nhàng,
sóng đang gầm, bỗng đâu im tiếng,

 (30) họ vui sướng, vì trời yên bể lặng
và Chúa dẫn đưa về bờ bến mong chờ.

 (31) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,
và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 (32) Ước chi lời họ tán dương Người nơi nhóm họp toàn dân
và ca tụng giữa hội đồng bô lão.

 (33) Chúa khiến sông ngòi cạn đi thành sa mạc,
đổi suối nguồn ra hoang địa khô khan,

 (34) đất màu mỡ hoá đồng chua nước mặn,
vì dân cư độc ác gian tà.

 (35) Người lại biến sa mạc thành hồ ao
và hoang địa khô khan nên nguồn suối.

 (36) Kẻ nghèo đói, Người cho đến ở,
họ lập nên thành thị để định cư.

 (37) Gieo lúa ngoài ruộng, trồng nho trong vườn,
họ thu hoạch hoa màu lợi tức.

 (38) Chúa chúc lành, họ sinh sôi nảy nở,
bầy gia súc, Người không để giảm đi.

 (39) Nhưng rồi họ phải tiêu hao lụn bại,
điêu đứng vì tai hoạ với khổ đau.

 (40) Chúa đổ nhuốc nhơ xuống hàng quyền thế,
bắt phiêu bạt giữa chốn hoang vu,
không đường ra lối vào.

 (41) Nhưng Chúa lại cất nhắc
kẻ nghèo hèn thoát cảnh lầm than,
ban cho cả giống dòng
như chiên cừu sinh năm đẻ bảy.

 (42) Người chính trực thấy thế mà mừng rỡ,
bọn gian tà chẳng dám hé môi.

 (43) Ai kẻ hiền nhân, hãy để tâm suy nghĩ,
thì sẽ am tường lòng CHÚA thương yêu.

CHIA SẺ

Thật dễ dàng khi đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa một cách nhưng không ! Vô ơn là một điều có vẻ như tự nhiên đối với những tấm lòng của người tội lỗi (c.8,15,21,31; Rm 1:2tt.) Đây là bốn bức tranh về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với người tội lỗi và cách thức họ đáp trả như thế nào.
Những người lữ hành (c.4-9). Bị lạc trong sa mạc mà không có thức ăn và nước uống có thể là một trải nghiệm kinh hoàng. Thiên chúa không chỉ cứu họ và dẫn họ tới thành đô an toàn. Họ có dành thời gian để tạ ơn Ngài. còn bạn thì sao ?
Những người tù nhân (c.10-16). Họ bị ở tù vì họ đã nổi loạn chống lại ý Thiên Chúa, vì thế họ bị đau khổ. Nhưng khi họ kêu lên Ngài, Ngài đã nghe và giải phóng họ. Họ có dành thời gian để tạ ơn Ngài. Còn bạn thì sao ?
Những người đau khổ (c.17-22). Chúng ta chuyển từ nhà tù sang bệnh viện nơi mà những người đang hấp hối vì cách sống u mê của họ. Họ đã “soạn sẵn giường cho mình” và họ nằm trên đó, nhưng Thiên Chúa đã chữa lành họ vì lòng thương xót. Họ có dành thời gian để tạ ơn Ngài. Còn bạn thì sao ?
Những người thủy thủ (c.23-32). Những nguy hiểm trên nước thường khó lường hơn những nguy hiểm trên cạn, vì bạn có thể tìm sự trợ giúp nơi đâu khi bão tố bủa vây chung quanh bạn ? Bạn chỉ có thể ngước mắt lên trời, đó là cách họ đã làm, và Thiên Chúa đã giải cứu họ. Ngài đã làm êm cơn bão, và Ngài đã mang họ tới bến họ ước mong (Ga 6:15-21). Họ có dành thời gian để tạ ơn Ngài. Còn bạn thì sao ?
Những người nông dân (c. 33-38). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban mưa nhờ đó biến những sa mạc thành vườn tược, và chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm cho đàn gia súc tăng số. Chúng ta ăn và được no đầy, nhưng chúng ta có dành thời gian để tạ ơn Chúa vì Ngài ban cho chúng ta lương thực (Đnl 6:10-13) ? Hãy trở nên khôn ngoan và hiểu về lòng thương xót của Thiên Chúa. Họ có dành thời gian để tạ ơn Ngài. Còn bạn thì sao ?